"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2022

 Thống kê Bến Lức

                  Tăng tốc chuyển đổi số quốc gia


    Đại dịch Covid-19 xảy ra trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam đã tạo ra cú huých giúp Việt Nam có những bước tiến thần tốc trong chuyển đổi số (CĐS). Theo các chuyên gia, nếu năm 2021 Việt Nam thực hiện CĐS mạnh mẽ thì năm 2022 và cả giai đoạn tiếp theo được nhận định là thời điểm để tăng tốc. Đến nay, CĐS quốc gia đã đạt được kết quả ở cả 3 trụ cột là chính phủ số, kinh tế số và xã hội số với nhiều mục tiêu của 10 - 20 năm đã có thể thực hiện được trong 1 năm, thậm chí nhanh hơn.

    Tăng tốc chuyển đổi số quốc gia

    Năm 2022 là năm thúc đẩy mạnh mẽ CĐS ở mọi ngành trên phạm vi toàn quốc, toàn dân và toàn diện. Chính phủ Việt Nam coi hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, các nền tảng số quốc gia là yếu tố then chốt và đang nỗ lực tăng tốc lộ trình CĐS quốc gia. Tại phiên họp thứ 3 của Ủy ban Quốc gia về CĐS vừa diễn ra cho thấy, hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nghị quyết của cấp ủy, kế hoạch của chính quyền 5 năm và hằng năm về CĐS. Ban Chỉ đạo CĐS của toàn bộ 22/22 bộ, ngành và 63/63 địa phương được thành lập và đi vào hoạt động.

 Tăng tốc chuyển đổi số quốc gia

Ảnh minh họa (Nguồn: Interrnet)

    Công tác hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường pháp lý cho CĐS cũng được đẩy mạnh. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 8 văn bản quan trọng về CĐS (6 Quyết định, 1 Chỉ thị, 1 Nghị định).

    Hạ tầng công nghệ thông tin, các nền tảng số tiếp tục được phát triển từ trung ương đến địa phương, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu CĐS. Tốc độ truy cập mạng băng rộng cố định đã tăng 32,7%, mạng di động tăng 4,7% so với cùng kỳ. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước kết nối 4 cấp hành chính tiếp tục được phát triển, đã kết nối đến 100% huyện, hơn 97% xã trên toàn quốc.

    Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được đẩy mạnh triển khai, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích cho người dân và doanh nghiệp (DN). Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối liên thông với 11 bộ, ngành; 4 DN Nhà nước và 14 địa phương tiếp tục làm giàu dữ liệu dân cư“đúng, đủ, sạch, sống”. Bước đầu đưa vào thí điểm triển khai một số ứng dụng của thẻ căn cước. Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm quản lý thông tin của 27 triệu hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế, bao gồm thông tin của 98 triệu người dân.

    Bên cạnh đó, dịch vụ công trực tuyến được triển khai ngày càng hiệu quả, sâu rộng. Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp 3.699 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; hơn 2,1 triệu tài khoản đăng ký, tăng hơn 2,8 lần so với cùng kỳ; hơn 122,7 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ; hơn 4,1 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng Dịch vụ công quốc gia, tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ.

    Hoạt động CĐS trong DN diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây. Các DN đã chủ động tìm hướng đi mới, áp dụng CĐS trong vận hành để có thể duy trì tối đa hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mô hình nền kinh tế số được DN chú trọng trong định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Đặc biệt, quá trình CĐS của các DN công nghệ số Việt Nam đã khẳng định vai trò tiên phong trong nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển nền kinh tế số. Đến nay, Việt Nam đã có nhiều DN công nghệ lớn như: Viettel, VNPT, FPT, CMC BKAV, MISA… và các DN công nghệ mới nổi, phát triển từ hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo như: Momo, 1Office, Base.vn, Anvui… Ngoài ra, nhiều DN cũng đang tiếp tục nghiên cứu, phát triển ra các sản phẩm, nền tảng công nghệ phục vụ CĐS quốc gia.

    Quá trình CĐS giúp Việt Nam tạo ra nhiều ngành nghề kinh doanh mới và tạo ra việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Nguồn nhân lực cho CĐS cũng đang được chú trọng phát triển, đa dạng hình thức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn trong đó có thể kể đến sự hợp tác mới đây giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tập đoàn Google đã ra mắt chương trình phát triển nhân tài số (Google Career Certificates) và hỗ trợ DN khởi nghiệp (Google for Startups). Thông qua hai chương trình này giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số, cung cấp nhiều hơn các cơ hội học tập và phát triển cho những nhân tài và DN khởi nghiệp tại Việt Nam.

    Có thể nói, CĐS đang đi đúng hướng và đi nhanh, quyết liệt đưa công nghệ vào triển khai các mặt của đời sống kinh tế xã hội giúp thúc đẩy CĐS quốc gia, tỷ trọng kinh tế số trong GDP gia tăng. Nếu năm 2021, tỷ trọng kinh tế số trong GDP đạt khoảng 9,6% thì đến quý I/2022, tỷ trọng kinh tế số trong GDP tăng lên 10,2% và đến quý II/2022, con số này là 10,41%. Năm 2022, mục tiêu đặt ra, kinh tế số trong GDP sẽ chiếm 11,2%. Theo Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành, mục tiêu kinh tế số sẽ chiếm 20% GDP vào năm 2025 và 30% GDP vào năm 2030.

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được CĐS thời gian qua còn một số khó khăn, vướng mắc như: Số lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin, CĐS còn rất hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu CĐS; Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu còn nhiều hạn chế, vướng mắc, chưa hiệu quả, chưa hình thành một hệ thống liên thông, thông suốt. Hạ tầng công nghệ thông tin của nhiều bộ, ngành, địa phương đã đầu tư từ lâu, thiếu đồng bộ, chưa được nâng cấp, không bảo đảm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu; Tỉ lệ xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng chưa cao; thiếu cơ chế giám sát triển khai CĐS.

    Để tiếp tục thực hiện CĐS đi đúng hướng, đi nhanh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, ngày 3/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 749 QĐ-TTg về Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Tầm nhìn của Việt Nam là trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.

    Chương trình hướng tới mục tiêu kép vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các DN công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu. Chương trình đặt ra mục tiêu đến năm 2025: Việt Nam thuộc nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI); kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI); Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI); Việt Nam thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII); hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 50%; Việt Nam thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI). Đến năm 2030, 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 90% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 70% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); Hình thành nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan Nhà nước và hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT), kết nối, chia sẻ rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước, giảm 30% thủ tục hành chính; mở dữ liệu cho các tổ chức, DN, tăng 30% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân, DN; 70% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI); kinh tế số chiếm 30% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 8%; Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI); Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI); Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII); phổ cập dịch vụ mạng Internet băng rộng cáp quang; phổ cập dịch vụ mạng di động 5G; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 80%; Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI).

    Nhiệm vụ và giải pháp chuyển đổi số quốc gia thời gian tới

    Để thực hiện mục tiêu chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 thời gian tới cần tập trung vào các nhiệm vụ và giải pháp tạo nền móng chuyển đổi số như:

    Một là, tổ chức phổ biến, quán triệt chủ trương của Đảng, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, người dân và DN về sự cần thiết và tính cấp thiết của CĐS. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ về CĐS với nghị quyết, chiến lược, chương trình hành động, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của các cấp, các ngành. Phát huy vai trò liên kết CĐS giữa các cơ quan Nhà nước và các tổ chức, DN; giữa hội, hiệp hội ngành nghề công nghệ thông tin với hội, hiệp hội chuyên ngành trong các lĩnh vực khác để tạo hiệu ứng lan tỏa ra xã hội.

    Hai là, kiến tạo thể chế theo hướng khuyến khích, sẵn sàng chấp nhận sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số, thúc đẩy phương thức quản lý mới đối với những mối quan hệ mới phát sinh, bao gồm: Xây dựng khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát cho hoạt động phát triển, thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số ở Việt Nam; rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong tiến trình CĐS, khuyến khích đổi mới, sáng tạo; nghiên cứu chính sách, quy định cụ thể về thuế, phí để khuyến khích người dân, DN sử dụng, cung cấp các dịch vụ số.

    Ba là, phát triển hạ tầng số, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu bùng nổ về kết nối và xử lý dữ liệu, các chức năng về giám sát mạng lưới đến từng nút mạng và bảo đảm an toàn, an ninh mạng được tích hợp sẵn ngay từ khi thiết kế, xây dựng bao gồm: Xây dựng, phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao trên toàn quốc; quy hoạch lại băng tần, phát triển hạ tầng mạng di động 5G; sớm thương mại hóa mạng di động 5G; triển khai các giải pháp để phổ cập điện thoại di động thông minh tại Việt Nam; mở rộng kết nối Internet trong nước, khu vực và quốc tế, đặc biệt là phát triển các tuyến cáp quang biển, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm kết nối khu vực. Phát triển hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT).

    Bốn là, phát triển nền tảng số mang tính thúc đẩy nhanh tiến trình CĐS diễn ra một cách tự nhiên, khai mở giá trị mới, mang lại lợi ích rõ ràng cho xã hội. Nền tảng số được tích hợp sẵn các chức năng về bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngay từ khi thiết kế, xây dựng như: Xây dựng hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia; xây dựng hệ thống thanh toán điện tử cho phép DN viễn thông cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử không thông qua tài khoản ngân hàng (Mobile Money) đối với người dân để phổ cập, cung cấp khả năng tiếp cận dịch vụ thanh toán điện tử một cách rộng rãi tới tất cả người dân; xây dựng và làm chủ công nghệ điện toán đám mây (Cloud).

    Năm là, tạo lập niềm tin vào tiến trình CĐS, hoạt động trên môi trường số thông qua việc hình thành văn hóa số, bảo vệ các giá trị đạo đức căn bản và bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm: Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng các bộ quy tắc ứng xử, tạo lập niềm tin trong môi trường số, hình thành văn hóa số gắn liền với bảo vệ các giá trị đạo đức căn bản của nhân loại và văn hóa truyền thống của Việt Nam; xây dựng cơ chế hợp tác, đối thoại để giải quyết các vấn đề phát sinh; xây dựng và triển khai hệ thống xác định, phát hiện thông tin vi phạm pháp luật trên không gian mạng và kịp thời xử lý, gỡ bỏ; xây dựng và triển khai hệ thống đánh giá tín nhiệm số đối với hệ thống thông tin của các tổ chức, DN cung cấp dịch vụ trực tuyến để đánh giá và công bố công khai mức độ an toàn, tin cậy; xây dựng và triển khai hệ thống giám sát, cảnh báo sớm nguy cơ, điều phối ứng cứu sự cố mất an toàn, an ninh mạng cho các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam.

    Sáu là, hợp tác quốc tế, nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số. Thu hút nhân tài, hợp tác với các tổ chức, DN lớn trên thế giới để nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo, bao gồm: Xây dựng chương trình hành động cụ thể để nghiên cứu, chuyển giao, triển khai các công nghệ mới ở Việt Nam; nghiên cứu, xây dựng các khu thử nghiệm dành cho DN công nghệ theo mô hình tiên tiến của thế giới để tiên phong thử nghiệm công nghệ mới nhất, mô hình mới nhất trên thế giới; Lựa chọn ưu tiên nghiên cứu một số công nghệ cốt lõi mà Việt Nam có khả năng tạo bứt phá mạnh mẽ như: Trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối (blockchain) và thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR); xây dựng hệ thống điện toán có năng lực đủ mạnh để xử lý, phân tích dữ liệu; Chủ động hợp tác quốc tế trong việc tham gia quản lý các tài nguyên chung trong môi trường số và trên không gian mạng./.

Nguyễn Trang

Nguồn: Consosukien.vn

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

 Thống kê Bến Lức

" Thống kê là tai, là mắt của Đảng"


Trích dẫn ý kiến của nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về công tác "Thống kê" tại hội nghị Tổng kết ngành Thống kê

Theo Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Thủ tướng chính phủ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại hội nghi Tổng kết ngành Thống kê năm 2018: “…Trước hết, ta thấy nhận thức trên toàn xã hội, ngành Thống kê là một ngành có vị trí quan trọng, bởi là nơi cho kết quả đầu ra của cả nền kinh tế với những số liệu khách quan, trung thực. Chúng ta có Luật Thống kê, theo đó ngành Thống kê tương đối độc lập để có được kết quả ấy. Từ sản phẩm kết quả đầu ra về kinh tế - xã hội của đất nước, giúp cho việc hoạch định về các chiến lược và công tác quy hoạch, kế hoạch của Quốc gia, của ngành. Từ đó, chúng ta hình thành nên những cơ chế chính sách để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt là qua số liệu, chúng ta có thể điều hành chỉ đạo, nhất là chỉ đạo những việc nổi cộm trong từng thời kỳ. Con số biết nói chính là ở chỗ đó. Không thể nói theo định tính được, cần phải có định lượng, khi chưa biết số tuyệt đối thì chưa thể nói số tương đối. Các đồng chí làm việc này rất khách quan..”, hay:

Tại hội nghị Thống kê toàn quốc (17/3/2022) Ủy viên Bộ chính trị, Thủ tướng chính phủ Phạm Minh chính  phát biểu và đưa ra dẫn chứng: “Ngành Thống kê là tai, là mắt của Đảng; nói có sách, mách có chứng; con số biết nói” để nhấn mạnh tầm quan trọng của Thống kê;

“…Thủ tướng chỉ đạo ngành Thống kê cần tiếp tục nâng cao nhận thức về công tác thống kê trên toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt là người đứng đầu ở các cấp chính quyền; thống kê đảm bảo đầy đủ, toàn diện, khách quan, chính xác, kịp thời, thường xuyên, liên tục và phân tích đánh giá, dự báo phải sát với tình hình và sử dụng có hiệu quả số liệu thống kê; đầu tư cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, người đứng đầu các cấp chính quyền địa phương cần trực tiếp chỉ đạo, nắm về công tác thống kê để có số liệu; nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, gắn với việc cơ cấu lại và xây dựng bộ máy tinh gọn, làm việc có hiệu quả gắn với vị trí việc làm; đầu tư hơn cho việc nâng cao chuyển đổi số, kết hợp với các nền tảng chung; hoàn thiện thể chế; phối hợp với các bộ,ngành chặt chẽ và có hiệu quả; công tác hợp tác quốc tế sâu rộng; chi phí hành chính thấp người dân được thụ hưởng không để ai bỏ lại phía sau”.

Thực hiện: 

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2022

Thống kê Bến Lức

Tăng cường chất lượng và hình thức tuyên truyền, phổ biến thông tin thống kê


     Trong thời gian qua, ngành Thống kê đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng thông tin thống kê và tuyên truyền, phổ biến thông tin thống kê với nhiều hình thức đa dạng, phong phú tới đông đảo đối tượng dùng tin trong nước và quốc tế. Song, có thể khẳng định, trước hết, để người dân tin, quốc tế tin tưởng sử dụng thông tin thống kê thì chất lượng thông tin thống kê phải được đặt lên hàng đầu vì có tuyên truyền tốt đến mấy mà nội dung tuyên truyền không đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin thì việc tuyên truyền cũng sẽ không đạt hiệu quả. Chính vì vậy ngành Thống kê luôn xác định việc đổi mới, nâng cao chất lượng thông tin Thống kê là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài thể hiện trong nhiều hoạt động của Ngành. Trong đó có việc xây dựng cơ sở pháp lý, cập nhật Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia; hệ thống chỉ tiêu thống kê tỉnh, huyện, xã phù hợp với quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Ngành Thống kê xác định, người dân, doanh nghiệp là người cung cấp thông tin đồng thời cũng là người sử dụng thông tin nên ngay khi xây dựng danh mục chỉ tiêu thống kê, ngành Thống kê đã tham khảo ý kiến của người dân, doanh nghiệp, các bộ, ngành, tham vấn ý kiến từ các chuyên gia, tổ chức quốc tế. Bên cạnh đó, ngành Thống kê đẩy mạnh đổi mới cách thức thu thập thông tin thống kê, sử dụng công nghệ thông tin thay thế phiếu giấy nhằm có được thông tin chính xác, kịp thời; Nghiên cứu xây dựng đề án về Tư liệu hóa và chuyển đổi số trong Ngành; Tăng cường đào tạo nhân lực, nâng cao trình độ của người làm công tác thống kê thông qua các khóa đào tạo trong nước và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia quốc tế. Đặc biệt, đã có nhiều chuyên gia từ các tổ chức quốc tế tham gia hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, giám sát các cuộc điều tra, Tổng điều tra hoặc các nghiệp vụ chuyên sâu của Tổng cục Thống kê, như các chuyên gia đến từ ILO, UNFPA trong Tổng điều tra dân số và nhà ở, Điều tra Lao động việc làm; chuyên gia IMF trong Đánh giá lại quy mô GDP của Việt Nam, trong điều tra giá, … Ngành đã tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo cả trực tiếp và trực tuyến với các chuyên gia, tổ chức quốc tế, cơ quan thống kê các nước về các chỉ tiêu thống kê như Kinh tế số, logistics…Nhờ vậy, chất lượng thông tin thống kê của Việt Nam ngày càng được nâng lên, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người dùng tin trong nước và quốc tế do phương pháp luận luôn tuân thủ theo chuẩn mực của quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.


     Có được thông tin tốt việc tuyên truyền cũng phải tốt mới đạt mục tiêu là người dùng tin tin tưởng sử dụng thông tin thống kê. Hàng năm, ngay từ cuối năm trước, căn cứ kế hoạch công tác, ngành Thống kê đã xây dựng tổng thể kế hoạch tuyên truyền, lịch phổ biến thông tin thống kê của ngành cho năm sau. Dựa trên kế hoạch tổng thể này, các đơn vị trong toàn ngành xây dựng kế hoạch cụ thể tại từng đơn vị. Đây là căn cứ quan trọng để các đơn vị trong toàn ngành chủ động thực hiện công tác tuyên truyền bài bản, rộng khắp từ cơ quan Tổng cục Thống kê đến các cục Thống kê địa phương.

     Một trong những hình thức tuyên truyền phổ biến của Ngành là họp báo. Ngành Thống kê tổ chức các cuộc họp báo định kỳ công bố tình hình kinh tế xã hội cả nước và tình hình lao động việc làm theo quý, năm (ở trung ương) và tình hình kinh tế xã hội 6 tháng và cả năm (tại 63 tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương ). Ngoài ra, còn tổ chức họp báo đột xuất về kết quả các cuộc Tổng điều tra và điều tra quan trọng. Các cuộc họp báo ở Trung ương và địa phương có sự tham dự của đông đảo các phóng viên, biên tập viên, đại diện các bộ, ban, và các sở, ngành liên quan. Ngành Thống kê dành nhiều thời gian để trao đổi, giải đáp thỏa đáng các câu hỏi về thông tin thống kê đã cung cấp. Tài liệu cung cấp cho đại biểu tại cuộc họp báo được chuẩn bị kỹ lưỡng với nhiều hình thức như thông cáo báo chí, báo cáo rút gọn, inforgraphic. Sau mỗi cuộc họp báo, ngành Thống kê còn tổng hợp lại những thông tin quan trọng được dư luận quan tâm, tiếp tục cung cấp cho người dùng tin. Vì vậy, sau mỗi cuộc họp báo, thông tin thống kê tổng quan và chuyên sâu, các bài phân tích, phỏng vấn được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần giúp các cấp chính quyền, tổ chức, người dân và cộng đồng quốc tế nắm bắt được diễn biến tình hình kinh tế xã hội trên phạm vi cả nước, địa phương.

     Thông tin thống kê còn được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi thông qua website chính thống của Tổng cục Thống kê, Tạp chí điện tử Con số và Sự kiện, web của các đơn vị trong Ngành cùng 58/63 trang web của Cục Thống kê địa phương.  Các trang web này cập nhật đầy đủ, kịp thời các thông tin thống kê, được thiết kế khoa học giúp người dùng tin dễ dàng khai thác thông tin. Ngoài ra, các thông tin thống kê còn được tuyên truyền trên các bảng điện tử Led của 63 Cục Thống kê, với các nội dung phù hợp với từng thời điểm, nhiệm vụ của Ngành, qua đó cũng góp phần đưa thông tin thống kê, hoạt động của Ngành thống kê đến với người dân.

     Hiện nay, trong xu hướng mạng xã hội ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống người dân, những người làm công tác thống kê đã xây dựng fanpage Thống kê Việt Nam, tạo thêm một kênh đưa thông tin thống kê tiếp cận đến người dùng tin.

     Bên cạnh các hình thức tuyên truyền, phổ biến thông tin điện tử, trang web, thì hình thức tuyên truyền thông qua việc xuất bản các ấn phẩm thống kê cũng được chú trọng. Hằng năm, ấn phẩm thương hiệu của ngành Thống kê là Niên giám Thống kê ở Trung ương và 63 Cục Thống kê địa phương được đều đặn phát hành. Trung bình, ngành Thống kê xuất bản khoảng 250-300 đầu sách/năm với các thông tin thống kê chuyên đề chuyên sâu, kết quả các cuộc điều tra, Tổng điều tra, sách trắng doanh nghiệp, sách trắng hợp tác xã...

     Ngoài ra, ngành Thống kê cũng sản xuất nhiều video clip về một số đề án, hoạt động lớn của ngành phục vụ các đoàn công tác của cơ quan Thống kê ra nước ngoài và các đoàn nước ngoài đến công tác tại cơ quan Thống kê Việt Nam, giúp cho các cơ quan, tổ chức quốc tế hiểu rõ hơn về công tác thống kê Việt Nam.

     Có thể nói rằng, để có được thông tin thống kê chính xác, đầy đủ thì chỉ riêng sự cố gắng của ngành Thống kê, của những người làm công tác thống kê là chưa đủ mà cần có sự ủng hộ, hợp tác của người dân, doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin. Chính vì vậy, để có nguyên liệu đầu vào sạch, sản xuất ra số liệu thông tin chất lượng, thì người dân, doanh nghiệp là chủ thể được ngành Thống kê tập trung tuyên truyền. Theo đó, tùy mục đích, yêu cầu, nội dung của từng cuộc điều tra, ngành Thống kê phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông xây dựng kế hoạch tuyên truyền cụ thể, đảm bảo các nội dung tuyên truyền xuất hiện đồng loạt, cùng thời điểm, tạo hiệu ứng lan truyền trên tất cả các phương tiện truyền thông, để mọi người dân đều có thể biết, hiểu, ủng hộ. Đơn cử như trong cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2021, ngành Thống kê đã phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các báo in, báo mạng sản xuất hàng loạt chương trình phóng sự, tọa đàm, phỏng vấn, các bài viết, từ đó nhận được sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp, góp phần tạo nên thành công của cuộc tổng điều tra.

     Nhiều chiến dịch tuyên truyền của ngành Thống kê có sự tham gia của các chuyên gia ở các tổ chức quốc tế trong việc viết bài, trả lời phỏng vấn, tham gia tọa đàm trên các kênh truyền hình, càng khẳng định tính đúng đắn của phương pháp luận thống kê mà ngành Thống kê áp dụng phù hợp với thông lệ quốc tế… Bên cạnh đó, những người làm công tác thống kê, đặc biệt là đội ngũ Lãnh đạo ngành Thống kê từ Trung ương đến địa phương luôn chủ động, phối hợp, sẵn sàng cung cấp, phản hồi thông tin thống kê đến với công chúng, góp phần giúp cho số liệu thống kê ngày càng minh bạch, chính xác, đầy đủ.

     Như vậy, để đưa thông tin thống kê tới được đông đảo người dùng tin trong nước và quốc tế, ngành Thống kê đã sử dụng nhiều kênh thông tin với nhiều hình thức đa dạng, phong phú trên cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch và thực hiện bài bản tại các đơn vị từ Trung ương đến địa phương. Để người dùng tin trong nước và quốc tế tin tưởng, sử dụng thông tin thống kê, Ngành đã tập trung nâng cao chất lượng thông tin thống kê, thu hút sự quan tâm, ủng hộ của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế ngay từ khi xây dựng văn bản pháp luật đến việc tham gia cung cấp và sử dụng thông tin thống kê nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người sử dụng thông tin thống kê.
 
TS. Nguyễn Thị Hương
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê
Nguồn: consosukien.vn
Thống kê Bến Lức    

      Tổng cục Thống kê nhận giải thưởng Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc

     Chiều ngày 06/9/2019, tại Hà Nội, Hội Truyền thông số Việt Nam tổ chức Lễ trao giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam – Vietnam Digital Awards (VDA) 2019. Đây là năm thứ hai giải thưởng được tổ chức để tôn vinh các tổ chức, doanh nghiệp có những thành tựu, đóng góp quan trọng cho công cuộc chuyển đổi số của Việt Nam.

     Tham dự Lễ trao giải có: Ông Phan Xuân Dũng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Quốc hội; Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Đại diện lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương; Đại diện lãnh đạo một số tỉnh, thành phố, các hiệp hội Trung ương và địa phương; Đại diện các đơn vị, doanh nghiệp nhận giải cùng đông đảo cơ quan thông tấn báo chí.

     Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam – Vietnam Digital Awards 2019 được phát động từ tháng 3/2019. Sau 4 tháng phát động, Ban tổ chức đã nhận được 245 hồ sơ dự thi ở tất cả các thành phần theo cơ cấu giải thưởng. Qua một thời gian đánh giá bình chọn, Ban tổ chức đã lựa chọn ra 50 đơn vị với các giải pháp xuất sắc nhất để trao giải thưởng cho 4 hạng mục gồm: Sản phẩm dịch vụ, giải pháp công nghệ số; Doanh nghiệp chuyển đổi số; Chuyển đổi số cơ quan nhà nước; Thu hẹp khoảng cách số. Trong đó, Tổng cục Thống kê vinh dự được nhận giải thưởng ở hạng mục Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc. Thay mặt Lãnh đạo Tổng cục Thống kê, Bà Nguyễn Thị Hương, Phó Tổng cục trưởng TCTK lên nhận giải tại Lễ trao giải.
 
Tổng cục Thống kê nhận giải thưởng hạng mục
 

Bà Nguyễn Thị Hương, Phó Tổng cục trưởng TCTK lên nhận giải tại Lễ trao giải. Ảnh: Bích Ngọc

     Đây là giải thưởng trân quý dành cho Tổng cục Thống kê với giải pháp ứng dụng phiếu điều tra điện tử trong Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019 thay cho phiếu giấy truyền thống. Thực hiện giải pháp này, trong quá trình thực hiện TĐT dân số và nhà ở năm 2019, Tổng cục Thống kê đã áp dụng 2 hình thức thu thập thông tin mới: (1) Điều tra bằng phiếu điện tử trên thiết bị di động (CAPI): Điều tra viên sử dụng thiết bị di động (máy tính bảng, điện thoại thông minh) để phỏng vấn, ghi dữ liệu và truyền trực tuyến về trung tâm máy chủ. Với phương pháp này, dữ liệu được quản lý đồng bộ tất cả các khâu trong quá trình điều tra. (2) Điều tra bằng phiếu trực tuyến sử dụng Internet (Webform). Đây là hình thức thu thập thông tin ứng dụng công nghệ thông tin của phương pháp điều tra gián tiếp, cho phép các hộ đăng ký thực hiện Webform được cấp Tài khoản và Mật khẩu dễ dàng nhập vào hệ thống thông tin của TĐT và tự cung cấp thông tin của hộ và các nhân khẩu thực tế thường trú của hộ theo phiếu hỏi.

     Giải pháp phiếu điều tra điện tử đã thể hiện một số ưu điểm nổi bật: Không cần in phiếu điều tra giấy, giúp giảm đáng kể ngân sách nhà nước cho cuộc điều tra; Giảm thời gian xử lý kết quả điều tra sau khi thu thập thông tin từ 9 tháng xuống còn 3 tháng (bỏ qua khâu nhập tin thường kéo dài mất 6 tháng đối với TĐT dân số); Ngăn ngừa và kiểm soát được các lỗi logic trong khi kê khai thông tin điều tra nhằm nâng cao chất lượng thông tin điều tra.

     Với những ưu điểm trên, giải pháp ứng dụng phiếu điều tra điện tử trong Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019 đã giúp nâng cao chất lượng số liệu, tăng tính minh bạch và chặt chẽ của quy trình sản xuất thông tin thống kê, rút ngắn thời gian công bố kết quả TĐT, giảm kinh phí điều tra và phù hợp với xu hướng tổ chức điều tra của thế giới.
 
Tổng cục Thống kê nhận giải thưởng hạng mục
 

Các đơn vị lên nhận giải thưởng tại Lễ trao giải. Ảnh: Bích Ngọc

     Giải thưởng "Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc”  là sự động viên, khích lệ lớn để Tổng cục Thống kê tiếp tục có những đóng góp trong hành trình chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới./.
 
Bích Ngọc

Nguồn: Consosukien.vn

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2022

Thống kê Bến Lức

Bến Lức - vùng đất anh hùng

        Bến Lức có truyền thống là huyện 2 lần “Anh hùng trong kháng chiến”. Thời bình, Bến Lức là một trong số ít địa phương của tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (AHLĐ) thời kỳ đổi mới. Suốt chặng đường dài, huyện Bến Lức đạt nhiều thành tích nổi bật trên các lĩnh vực, nhất là trong phong trào thi đua yêu nước.

Chủ tịch UBND huyện Bến Lức - Trần Văn Tươi (bìa phải) đại diện huyện nhận cờ thi đua của Chính phủ vì đã hoàn thành xuất sắc, toàn diện nhiệm vụ công tác, dẫn đầu phong trào thi đua yêu nước năm 2020 của tỉnh

1. Theo UBND huyện Bến Lức, tỉnh Long An, năm 1983, huyện Bến Lức tái thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Bến ThủVới xuất phát điểm thấp, đời sống nhân dân khi ấy còn nhiều khó khăn, kinh tế kém phát triển. Với vị trí thuận lợi cùng nhiều định hướng đúng đắn, Bến Lức có sự “chuyển mình” từ huyện thuần nông trở thành huyện dẫn đầu trong tỉnh về kết quả thu hút đầu tư, phát triển các khu, cụm công nghiệp, kết hợp với việc quy hoạch và xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu dân cư, tuyến dân cư theo hướng đô thị hóa,... Từ đó, tạo điều kiện cho huyện trở thành địa phương có vai trò quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.

        Năm 2010, Bến Lức là đơn vị đầu tiên trong tỉnh được phong tặng danh hiệu AHLĐ thời kỳ đổi mới. Lúc đó, thành tích này hoàn toàn “mới toanh” so với các địa phương khác. Đây là cả một quá trình phấn đấu lâu dài của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện. Huyện phát huy hiệu quả tiềm năng sẵn có từ hệ thống giao thông: Quốc lộ 1, đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương, Đường tỉnh 830, sông Vàm Cỏ Đông,... tạo thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển KT-XH.

        Chủ tịch UBND huyện Bến Lức - Trần Văn Tươi cho biết, điểm nhấn của huyện chính là tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất kinh tế duy trì ở mức cao. Bến Lức được quy hoạch phát triển công nghiệp từ rất sớm. Trên địa bàn huyện hiện có 6 khu và 5 cụm công nghiệp; có 9/11 khu, cụm công nghiệp có nhà đầu tư và đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy trên 88% với hơn 2.400 doanh nghiệp (DN) trong nước với nguồn vốn trên 28.800 tỉ đồng, 117 DN nước ngoài và hơn 3.000 hộ sản xuất, kinh doanh. Điển hình như các khu công nghiệp: Thuận Đạo, Thịnh Phát, Phúc Long, Vĩnh Lộc, Phú An Thạnh,... Các dự án, DN đầu tư sản xuất, kinh doanh tạo việc làm thường xuyên cho hàng chục ngàn lao động và đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách địa phương.

        Bến Lức hiện có nhiều khu dân cư đô thị mới mọc lên, hứa hẹn mang đến sự phát triển sôi động. Chính sự phát triển nhanh đó, tỉnh tiếp tục đầu tư Đường tỉnh 830 nhằm kết nối các khu, cụm công nghiệp các huyện: Bến Lức, Đức Hòa, Cần Đước, Cần Giuộc đi Cảng Quốc tế Long An.

        2. Thu ngân sách hàng năm của huyện vượt cao so với chỉ tiêu tỉnh giao. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện năm 2021 hơn 4.600 tỉ đồng, gấp 3,7 lần so với năm 2011, bình quân giai đoạn 2011-2021 tăng 13,9%/năm, nợ thuế được kiểm soát dưới mức quy định. Huyện hiện có 10/14 xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 1 xã đạt nông thôn mới nâng cao, phấn đấu đến năm 2025 sẽ đạt huyện nông thôn mới.

        Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Toàn huyện có hơn 98% hộ gia đình đạt gia đình văn hóa,...

        Đặc biệt, trong giai đoạn bùng phát dịch Covid-19, Bến Lức là một trong những huyện “vùng đỏ” của khu vực. Thời gian này, ngoài sự nỗ lực của các cấp, các ngành, huyện còn nhận được sự hỗ trợ, đồng hành từ các DN đóng góp tài lực, vật lực cho công tác phòng, chống dịch bệnh, bao gồm kinh phí, thiết bị y tế, nhu yếu phẩm, đóng góp quỹ vắc-xin,... Huyện tổ chức thăm hỏi, động viên tinh thần lực lượng tuyến đầu phòng, chống dịch với tổng nguồn đóng góp trên 41 tỉ đồng. Bên cạnh đó, các DN còn hỗ trợ 5 tỉ đồng để triển khai thành lập và đưa vào hoạt động “trạm y tế lưu động DN”.

        Ông Trần Văn Tươi khẳng định, những thành quả mà cán bộ và nhân dân huyện đạt được kể từ khi tái thành lập đến nay là sự đoàn kết, vượt khó của Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể, nhân dân và cộng đồng DN trên địa bàn cùng sự quan tâm hỗ trợ của tỉnh. Đó là kết quả của tầm nhìn chiến lược và chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, trong đó phải kể đến việc huy động, tập trung phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghiệp, làm nền tảng đột phá đưa công nghiệp, nông nghiệp phát triển.

        Thời gian tới, huyện tiếp tục tăng cường nhiều giải pháp đẩy mạnh xúc tiến đầu tư phát triển công nghiệp và triển khai, thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ DN vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất. Đây là điểm nhấn quan trọng để huyện tiếp tục bứt phá vươn lên.

        Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng quê hương, hướng đến kỷ niệm 40 năm tái thành lập huyện Bến Lức (1983-2023), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện ra sức thi đua phấn đấu, hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu phát triển KT-XH vào thời gian tới, đưa huyện trở thành huyện đạt chuẩn nông thôn mới và đô thị loại II vào năm 2025. Hiện huyện đã được Hội đồng Thi đua Khen thưởng các cấp trình hồ sơ đề nghị Chủ tịch nước xét, tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Hạ tầng giao thông được đầu tư, giúp Bến Lức phát triển KT-XH

Cán bộ và nhân dân huyện Bến Lức đã được Chủ tịch nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý. Đó là Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2004 và Bến Lức là địa phương liên tục 17 năm (2004-2021) hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với thành tích 9 năm được tặng thưởng cờ “Đơn vị thi đua xuất sắc” của UBND tỉnh (từ năm 2004-2010 và năm 2020, 2021); 9 năm được UBND tỉnh tặng bằng khen (từ năm 2011-2019), trong đó năm 2010 vinh dự là huyện đầu tiên của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được Chủ tịch nước tặng danh hiệu AHLĐ thời kỳ đổi mới và có 5 năm được tặng thưởng “Cờ thi đua” của Chính phủ (gồm các năm: 1999, 2002, 2006, 2009, 2020).

        Ngoài ra, trong huyện còn có 1 xã và 1 trường tiểu học được tuyên dương, phong tặng danh hiệu AHLĐ thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, từ khi nhận Huân chương Lao động hạng Nhất đến nay, huyện liên tục giữ vững thành tích là huyện nằm trong tốp ba trong phong trào thi đua khối các huyện, thành phố phía Nam của tỉnh./.

Như Nguyệt-Báo Long An số 171/2022

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2022

Thống kê Bến Lức

NHỮNG THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ 

HUYỆN BẾN LỨC GIAI ĐOẠN 2011-2021


Huyện Bến Lức là một trong 15 đơn vị hành chính của tỉnh Long An, cửa ngõ của miền Tây Nam Bộ gồm Thị trấn Bến Lức và các xã Thạnh Lợi, Lương Bình, Thạnh Hòa, Lương Hòa, Tân Hòa, Tân Bửu, An Thạnh, Bình Đức, Mỹ Yên, Thanh Phú, Long Hiệp, Thạnh Đức, Phước Lợi, Nhựt Chánh. Trong đó Thị trấn Bến Lức là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của huyện. Và cũng là nơi tập trung các cơ quan Đảng, đoàn thể, trụ sở hành chính quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục, y tế, trường học với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 287,8571 km, dân số trung bình 186.241 người, mật độ dân số 647 người/km.

Với lợi thế tiếp giáp Thành Phố Hồ Chí Minh theo các trục giao thông chính liên vùng là Quốc lộ 1A, Quốc lộ N2 và cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, Bến Lức - Long Thành. Bên cạnh, còn chuẩn bị hình thành các trục vành đai 3, 4 nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với Đồng Bằng sông Cửu Long huyện đã tiếp cận và thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước về công nghiệp trước bối cảnh phát triển hiện nay. Ngoài ra, trong tầm nhìn dài hạn Bến Lức còn là địa bàn phát triển mạnh về lĩnh vực thương mại - dịch vụ tiếp cận nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ trong thời gian tới

Trong 10 năm qua, huyện Bến Lức đã thực hiện nhiều chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn; thu hút người dân đến học tập, lao động và sản xuất đã kéo theo sự sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu lao động trong ngành nghề, tác động tích cực đến thu nhập của người dân trên địa bàn huyện. Sự chuyển dịch về cơ cấu lao động trong từng lĩnh vực cho thấy chính sách điều hành phát triển kinh tế xã hội của địa phương giai đoạn 2011-2021 là phù hợp với điều kiện của huyện

Khu công nghiệp Phúc Long - Bến Lức - Long An


Về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản

Trong những năm đầu mới giải phóng, Bến Lức còn là một huyện thuần nông chủ yếu tập trung sản xuất Nông nghiệp với diện tích khoảng 23.169 hecta (chiếm 69% diện tích đất tự nhiên); tập trung chủ yếu là cây lúa, mía, khóm, cây mì.v.v…Đất sản xuất phi nông nghiệp khoản 5.274 hecta (chiếm 31%).

Năm 2011 diện tích đất nông nghiệp là 19.816,31 hecta, chiếm 68,8%. Với nhiều chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn trong thời gian quan đã làm thay đổi cơ cấu đất rõ rệt. Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chuyển dịch mạnh sang đất phi nông nghiệp. Đến năm 2021 diện tích đất nông nghiệp 18.935,33 hecta, chiếm 65,7% (giảm 3,1 điểm phần trăm, tương đương 880,98 hecta); đất phi nông nghiệp 9.850,38 hecta, chiếm 34,3% (tăng 3,3 điểm phần trăm, tương đương 4.576,38 hecta.

Quy mô kinh tế khu vực Nông lâm thủy sản (theo giá hiện hành) năm 2011 là 1.080 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng là 2,3%, năm 2021 ước thực hiện là 2.171,1 tỷ đồng (chiếm 1,8%). Sau 10 năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng,  khu vực Nông  - lâm - thủy sản giảm 0,5 điểm phần trăm và chuyển sang khu vực Công nghiệp – xây dựng và Thương mại – dịch vụ.

Về phát triển công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ

Hiện nay trên địa bàn huyện hiện có 6 khu công nghiệp và 5 cụm công nghiệp; đến nay, có 9/11 khu, cụm công nghiệp có nhà đầu tư và đi vào hoạt động với tỷ lệ lắp đầy khoảng 78,19%, trong đó KCN lắp đầy 92,68%, CCN lắp đầy 17,4%.

Qua 10 năm, số doanh nghiệp trên địa bàn huyện Bến Lức tăng nhanh. Năm 2011  có 450 doanh nghiệp đang hoạt động (40 doanh nghiêp nước ngoài hoạt động), năm 2021 là 1.467 doanh nghiệp đang hoạt động (103 doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động), giai đoạn 2011-2021 doanh nghiệp giải thể và tạm ngưng hoạt động là 403 doanh nghiệp (giải thể, tạm ngưng nhiều vào năm 2021 do tác động của dịch Covid-19) và số doanh nghiệp tăng là 1.017 doanh nghiệp, bình quân mỗi năm tăng 101,7 doanh nghiệp.

        Quy mô kinh tế (theo giá hiện hành) năm 2011 trên lĩnh vực Công nghiệp – xây dựng và Thương mại – dịch vụ lần lượt là 35.860 tỷ đồng (chiếm 88,7%) và 3.341 tỷ dồng (chiếm 9%). Với chính sách thu hút đầu tư trong thời gian qua tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lớn theo hướng Công nghiệp – xây dựng và Thương mại – dịch vụ, năm 2021 lần lượt là 109.609,5 tỷ đồng (chiếm 89,8%) và 10.281,6 tỷ đồng (chiếm 8,4%), là huyện có quy mô nền kinh tế đứng đầu tỉnh Long An, chiếm tỷ trọng 34% so toàn tỉnh. Với sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế từ Nông nghiệp sang Công nghiệp – xây dựng, Thương mại – dịch vụ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người dân. Thành tựu phát triển kinh tế của huyện Bến Lức góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế cả nước./.

Thực hiện: 

 Thống kê Bến Lức

Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn từ kết quả Tổng điều tra Kinh tế năm 2021

Số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể tiếp tục tăng nhưng tỷ lệ phân bố các cơ sở cá thể giữa các vùng kinh tế - xã hội không đồng đều.

Tính đến năm 2021, toàn huyện có 6.751 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể với số lao động là 11.982 người, giảm 7,06% về số đơn vị và giảm 4,27% về số lao động so với năm 2016. Đây là mức giảm cao nhất trong thời gian qua do tác động rất lớn của dịch bệnh Covid-19.

Xét theo khu vực kinh tế, số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể khu vực dịch vụ tiếp tục dẫn đầu về số lượng và lao động với hơn 6.380 cơ sở và số lao động là 11.145 người, giảm 14,8% về số cơ sở và giảm 7,6% về số lao động so với năm 2016. Số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể khu vực công nghiệp và xây dựng là 366 cơ sở với số lao động là 837 người, giảm 37,9% về số cơ sở và giảm 37,1% về số lao động so với năm 2016./.
Thực hiện:



Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

Thống kê Bến Lức

HIỂU ĐÚNG VỀ "%" và " ĐIỂM %"

         “Điểm %” và “%” là hai đơn vị riêng biệt và mang những ý nghĩa khác nhau khi nói về sự biến động của các số liệu như lãi suất, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP.

        Tính toán tỷ lệ phần trăm (%) là việc làm phổ biến để so sánh mức độ chênh lệch, tăng giảm của các số liệu. Muốn biết số A lớn hơn số B bao nhiêu %, chỉ cần lấy số A chia cho số B, lấy kết quả trừ đi 1 rồi cuối cùng nhân với 100, tức là (A/B – 1) x 100.

        Ví dụ: Số gà đang chạy trong vườn ngày hôm nay là 15 con (tức A = 15); số gà ngày hôm qua là 10 con (tức B = 10). Số gà hôm nay lớn hơn số gà hôm qua 5 con, quy đổi ra tỷ lệ % là (15/10 – 1) x 100 = 50%.

        Khi bản thân các số A và B đều có dạng %, phép tính cũng được thực hiện tương tự nhưng lúc này sẽ xuất hiện thêm một đơn vị nữa là “điểm %”.

        Giả sử tỷ lệ lạm phát tháng này là 12%, tháng trước là 10%. Vậy tỷ lệ lạm phát tháng này cao hơn tháng trước bao nhiêu %? Câu trả lời là 20%, vì tính theo công thức trên: (12%/10% - 1) x 100 = 20%.

        Nếu làm phép trừ đơn giản 12% - 10% thì kết quả phải là 2 điểm %.

        Như vậy, “điểm %” là đơn vị của kết quả phép tính trừ giữa hai số dưới dạng %, còn muốn dùng đơn vị “%” thì trong công thức tính toán phải có phép chia.

Khi lạm phát tăng từ 8,6% trong tháng 5 lên mức 9,1% trong tháng 6, cách diễn đạt đúng là "lạm phát tăng 0,5 điểm %".

        Tương tự, nếu GDP năm trước tăng trưởng 5%, GDP năm nay tăng trưởng 9%, thì cách diễn đạt đúng là: “Tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm trước 4 điểm %” hoặc “Tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm trước 80%”, vì (9%/5% – 1) x 100 = 80%.

        Nếu nói “Tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm trước 4%” là không chính xác.

        Hôm 27/7, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) kết thúc cuộc họp thường kỳ kéo dài hai ngày và quyết định nâng lãi suất. Có trang báo nói rằng Fed nâng lãi suất thêm 0,75 điểm %, có nơi lại nói là thêm 0,75%. Vậy cách nói nào là đúng?

        Mức trần của lãi suất quỹ liên bang tại Mỹ trước cuộc họp là 1,75%, sau cuộc họp được nâng lên thành 2,5%. Như vậy, nếu làm phép trừ đơn giản thì cách diễn đạt đúng là “Fed nâng lãi suất thêm 0,75 điểm %”.

        Nếu muốn dùng đơn vị % thì cách nói chính xác là “Fed nâng lãi suất thêm 42,85%”, vì đó là kết quả của phép tính (2,5%/1,75% - 1) x 100.

Cách nói “Fed nâng lãi suất thêm 0,75%” tuy đơn giản và ngắn gọn nhưng lại không đúng.

Điểm % và % dễ gây nhầm lẫn.

        Một cách diễn đạt khác cũng thường xuất hiện trên báo chí nước ngoài và ngày càng được sử dụng nhiều ở Việt Nam là “điểm cơ bản”, viết tắt là bps vì được dịch từ “basis point” trong tiếng Anh.

        1 điểm cơ bản (bps) bằng 0,01 điểm %, 75 điểm cơ bản bằng 0,75 điểm %. Vì vậy, “Fed tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản” cũng là cách viết đúng.

        Kể từ tháng 3 đến tháng 7/2022, Fed đã nâng lãi suất 4 lần liên tiếp, tổng mức tăng là 2,25 điểm %, hay nói cách khác là 225 điểm cơ bản. Hiện nay, lãi suất điều hành của Fed đã quay lại mức đỉnh cuối năm 2018.

Fed nâng lãi suất 4 lần liên tiếp từ tháng 3 đến tháng 7/2022.

        Fed còn họp bao nhiêu lần trong năm nay?

        Từ đầu năm đến nay Ủy ban Thị trường mở Liên bang của Fed đã họp 5 lần, trong đó có 4 lần dẫn tới quyết định nâng lãi suất và lần đầu tiên (ngày 25-26/1) giữ nguyên lãi suất.

        Từ nay đến cuối năm, các quan chức của ngân hàng trung ương Mỹ còn họp thêm ba lần nữa vào các ngày 20 - 21/9, 1 - 2/11, và 13 – 14/12.

        Trong bối cảnh lạm phát đang ở vùng cao nhất 40 năm, gần như chắc chắn Fed sẽ tiếp tục nâng lãi suất trong các cuộc họp tới. Tuy nhiên, nhịp độ tăng có thể sẽ thấp hơn trong các cuộc họp vừa qua. Một nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế Mỹ đang phát đi những tín hiệu đáng ngại.

        Hôm 28/7, Cục Thống kê Lao động Mỹ cho biết GDP quý II của nền kinh tế lớn nhất thế giới giảm 0,9%, đánh dấu quý đi xuống thứ 2 liên tiếp.

        Nhiều khả năng lãi suất sẽ không tăng mạnh tới mức 0,75 điểm % như trong cuộc họp tháng 6 và 7 mà chỉ thêm 0,25 - 0,5 điểm %, hoặc 25 – 50 điểm cơ bản. Nếu nói Fed tăng lãi suất 0,25 – 0,5% là chưa chính xác.


nguồn: https://vietnambiz.vn/

Thực hiện: