HUYỆN
BẾN LỨC,
DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA 10
NĂM NHÌN LẠI
1. Di cư
Di cư có
vai trò quan trọng tới biến động dân số của địa phương. Di cư là động lực tích cực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
lao động, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và bảo đảm phát triển bền
vững.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện,
sự chuyển dịch lao động là rất lớn, nhất là trong 10 năm qua, di cư tìm kiếm cơ
hội việc làm, học tập và mưu sinh.v.v…
Trong số
170.349 người từ 5 tuổi trở lên, số người di cư là 16.575 người, chiếm 9,73%.
Trong đó, số người di cư trong huyện và di cư giữa các huyện chiếm lần lượt là 3,65%
và 1,01%; nhóm di cư giữa các tỉnh chiếm tỷ lệ lớn nhất 4,93%. Quan sát tình
hình di cư trong 10 năm qua cho thấy sự thay đổi rõ về số lượng. Trong giai
đoạn 1999-2009 tỷ số nhập cư là 62,9% (tương đương 9.348 người dân nhập cư); tỷ
lệ tăng dân số cơ học bình quân 1,02%/năm. Giai đoạn 2009-2019 tỷ suất nhập cư
là 59,34% (tương đương 10.109 người); tỷ
lệ tăng dân số cơ học bình quân là 0,78%/năm. Trong giai đoạn này tỷ lệ
di cư giữa nam và nữ gần như ngang nhau, không có sự chênh lệch lớn, đa phần là
di cư theo hộ gia đình (nam là: 5.028 người; nữ là 5.080 người).
Dân số từ 5 tuổi trở lên theo mức độ di cư, 2009-2019
|
|
2009
|
2019
|
|
|
Số lượng (người)
|
Tỷ lệ (%)
|
Số lượng (người)
|
Tỷ lệ (%)
|
|
Dân số 5 tuổi trở lên
|
137.392
|
100
|
170.349
|
100,0
|
|
Di cư trong huyện
|
2.336
|
1,7
|
6.216
|
3,6
|
|
Di cư giữa các huyện
|
3.160
|
2,3
|
1.716
|
1,0
|
|
Di cư giữa các tỉnh
|
8.656
|
6,3
|
8.393
|
4,9
|
|
Không di cư
|
123.241
|
89,7
|
153.929
|
90,4
|
|
Nhập cư quốc tế
|
-
|
-
|
95
|
0,1
|
|
|
|
|
|
|
|
Trong giai
đoạn 1999-2009 tỷ lệ tăng dân số cơ học của huyện là rất lớn, nguyên nhân trong
giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của huyện với nhiều chính sách thu hút đầu tư
đã kéo theo sự gia tăng về các công
trình xây dựng nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn. Lúc này lực lượng lao động từ
các nơi khác đổ về nhằm tìm kiếm cơ hội việc làm dẫn đến số người nhập cư tăng
cao. Tuy nhiên giai đoạn 2009-2019 tỷ lệ tăng dân số cơ học vẫn tiếp tục diễn
tra trong bối cảnh phát triển Công nghiệp và đô thị hóa đã thu hút số lượng dân
nhập cư đến lao động và học tập nhưng do nhiều nhà máy, xí nghiệp đã có đủ lực
lượng lao động nên số lượng người nhập cư không tăng cao như giai đoạn trước.
Luồng di cư
phân theo thành thị, nông thôn năm 2019
Đơn vị tính: %
|
Năm 2019
|
|
Chung
|
Thành thị
|
Nông thôn
|
|
Nông
thôn - Nông thôn
|
51,3
|
0,0
|
73,7
|
|
Nông
thôn- thành thị
|
11,1
|
36,7
|
0,0
|
|
Thành
thị- nông thôn
|
18,4
|
0,0
|
26,3
|
|
Thành
thị- thành thị
|
19,2
|
63,3
|
0,0
|
Người
di cư đóng góp vào dân số nông thôn nhiều hơn là dân số thành thị. Kết quả Tổng
điều tra năm 2019 cho thấy, luồng di cư nông thôn - nông thôn tiếp tục là luồng di cư chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn nhất (51,3%)
và có xu hướng tăng so với hai kỳ Tổng điều tra 2009. Luồng di cư nông thôn - thành thị chiếm 11,1%,
luồng di cư thành thị - nông thôn,
thành thị - thành thị chiếm lần lượt là 18,4% và 19,2%. Với chương trình huy động
mọi nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông phục vụ phát triển Kinh tế
trọng điểm, huyện đã tạo dấu ấn trong phát triển kinh tế, thu hút đầu tư phát
triển nhiều khu, cụm công nghiệp tại các vùng nông thôn, tạo sự chuyển dịch mạnh
mẽ cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; việc thực hiện
thành công chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã dần thu hẹp
khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, qua đó thúc đẩy luồng di cư từ nông
thôn, quá trình di cư từ nông thôn đến nông thôn, thành thị đến nông thôn ngày
càng chiếm ưu thế hơn.
2.
Đô
thị hóa
Quá trình
đô thị hoá được đo bằng mức độ tập trung dân số và những thay đổi trong tỷ
trọng dân số sống trong các khu vực thành thị. Theo kết quả Tổng điều tra năm 2019 Bến Lức có 14,8% dân số sống ở
khu vực thành thị (26.972
người) so với 15,1% vào năm 2009.
Trong thời
kỳ 2009-2019
, tỷ lệ
tăng dân số bình quân năm của huyện
là 2,03
%, khu vực thành thị tăng 1,84
%;
khu vực nông thôn tăng 2,06
%. Di cư là một trong những yếu tố làm biến động dân số và tác động đến
quá trình đô thị hóa. Bến Lức
, quá trình đô thị hoá diễn ra tương đối chậm do dân số thành thị có xu
hướng xuất cư đến các khu công nghiệp lớn của các tỉnh, thành phố lân cận như
thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai để tìm việc làm có thu nhập cao
hơn, điều kiện học tập và tiện nghi sinh hoạt tốt hơn; dân số ở nông thôn thì
một phần xuất cư ra thành thị và phần lớn trong số những người di cư là di
chuyển đến các địa bàn nông thôn tập trung các khu, cụm công nghiệp của tỉnh
nên trong 10 năm qua dân số thành thị biến động không đáng kể. Một phần
do điều kiện sống và sinh hoạt giữa thành thị và nông thôn đã không chênh lệch
quá xa như trước đây, chính sách về Nông thôn mới đã kéo giảm sự di cư và đô
thị hóa trong giai đoạn 2009-2019 trên địa bàn huyện, phần lớn người lao động
không còn tình trạng di cư về đô thị như giai đoạn 1999-2009
Tỷ trọng dân
số thành thị và nông thôn; tốc độ đô thị hóa 1989-2019
|
Thời điểm
|
Tổng
|
Dân số (người)
|
Tỷ trọng (%)
|
Tốc độ tăng bình quân năm
(%)
|
|
KV thành thị
|
KV nông thôn
|
KV thành thị
|
KV nông thôn
|
Chung
|
KV thành thị
|
KV
nông thôn
|
|
01/04/1989
|
111.019
|
15.092
|
95.927
|
13,6
|
86,4
|
-
|
-
|
-
|
|
01/04/1999
|
123.188
|
18.657
|
104.531
|
15,1
|
84,9
|
1,05
|
2,14
|
0,86
|
|
01/04/2009
|
148.621
|
22.474
|
126.147
|
15,1
|
84,9
|
1,89
|
1,88
|
1,90
|
|
01/04/2019
|
181.660
|
26.972
|
154.688
|
14,8
|
85,2
|
2,03
|
1,84
|
2,06
|
Trong 10 năm tới, với chính sách thu hút đầu tư trên
địa bàn huyện tại khu vực Bắc Bến Lức (đô thị phía Bắc) sẽ giảm áp lực về dân
cư đô thị và hạ tầng dân cư; sự dịch chuyển về dân cư và luồng di dân có sự
thay đổi rõ nét trong thời gian tới góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội
của huyện./.
lt.