"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2022

Thống kê Bến Lức

NHỮNG THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ 

HUYỆN BẾN LỨC GIAI ĐOẠN 2011-2021


Huyện Bến Lức là một trong 15 đơn vị hành chính của tỉnh Long An, cửa ngõ của miền Tây Nam Bộ gồm Thị trấn Bến Lức và các xã Thạnh Lợi, Lương Bình, Thạnh Hòa, Lương Hòa, Tân Hòa, Tân Bửu, An Thạnh, Bình Đức, Mỹ Yên, Thanh Phú, Long Hiệp, Thạnh Đức, Phước Lợi, Nhựt Chánh. Trong đó Thị trấn Bến Lức là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của huyện. Và cũng là nơi tập trung các cơ quan Đảng, đoàn thể, trụ sở hành chính quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục, y tế, trường học với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 287,8571 km, dân số trung bình 186.241 người, mật độ dân số 647 người/km.

Với lợi thế tiếp giáp Thành Phố Hồ Chí Minh theo các trục giao thông chính liên vùng là Quốc lộ 1A, Quốc lộ N2 và cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, Bến Lức - Long Thành. Bên cạnh, còn chuẩn bị hình thành các trục vành đai 3, 4 nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với Đồng Bằng sông Cửu Long huyện đã tiếp cận và thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước về công nghiệp trước bối cảnh phát triển hiện nay. Ngoài ra, trong tầm nhìn dài hạn Bến Lức còn là địa bàn phát triển mạnh về lĩnh vực thương mại - dịch vụ tiếp cận nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ trong thời gian tới

Trong 10 năm qua, huyện Bến Lức đã thực hiện nhiều chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn; thu hút người dân đến học tập, lao động và sản xuất đã kéo theo sự sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu lao động trong ngành nghề, tác động tích cực đến thu nhập của người dân trên địa bàn huyện. Sự chuyển dịch về cơ cấu lao động trong từng lĩnh vực cho thấy chính sách điều hành phát triển kinh tế xã hội của địa phương giai đoạn 2011-2021 là phù hợp với điều kiện của huyện

Khu công nghiệp Phúc Long - Bến Lức - Long An


Về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản

Trong những năm đầu mới giải phóng, Bến Lức còn là một huyện thuần nông chủ yếu tập trung sản xuất Nông nghiệp với diện tích khoảng 23.169 hecta (chiếm 69% diện tích đất tự nhiên); tập trung chủ yếu là cây lúa, mía, khóm, cây mì.v.v…Đất sản xuất phi nông nghiệp khoản 5.274 hecta (chiếm 31%).

Năm 2011 diện tích đất nông nghiệp là 19.816,31 hecta, chiếm 68,8%. Với nhiều chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn trong thời gian quan đã làm thay đổi cơ cấu đất rõ rệt. Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chuyển dịch mạnh sang đất phi nông nghiệp. Đến năm 2021 diện tích đất nông nghiệp 18.935,33 hecta, chiếm 65,7% (giảm 3,1 điểm phần trăm, tương đương 880,98 hecta); đất phi nông nghiệp 9.850,38 hecta, chiếm 34,3% (tăng 3,3 điểm phần trăm, tương đương 4.576,38 hecta.

Quy mô kinh tế khu vực Nông lâm thủy sản (theo giá hiện hành) năm 2011 là 1.080 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng là 2,3%, năm 2021 ước thực hiện là 2.171,1 tỷ đồng (chiếm 1,8%). Sau 10 năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng,  khu vực Nông  - lâm - thủy sản giảm 0,5 điểm phần trăm và chuyển sang khu vực Công nghiệp – xây dựng và Thương mại – dịch vụ.

Về phát triển công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ

Hiện nay trên địa bàn huyện hiện có 6 khu công nghiệp và 5 cụm công nghiệp; đến nay, có 9/11 khu, cụm công nghiệp có nhà đầu tư và đi vào hoạt động với tỷ lệ lắp đầy khoảng 78,19%, trong đó KCN lắp đầy 92,68%, CCN lắp đầy 17,4%.

Qua 10 năm, số doanh nghiệp trên địa bàn huyện Bến Lức tăng nhanh. Năm 2011  có 450 doanh nghiệp đang hoạt động (40 doanh nghiêp nước ngoài hoạt động), năm 2021 là 1.467 doanh nghiệp đang hoạt động (103 doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động), giai đoạn 2011-2021 doanh nghiệp giải thể và tạm ngưng hoạt động là 403 doanh nghiệp (giải thể, tạm ngưng nhiều vào năm 2021 do tác động của dịch Covid-19) và số doanh nghiệp tăng là 1.017 doanh nghiệp, bình quân mỗi năm tăng 101,7 doanh nghiệp.

        Quy mô kinh tế (theo giá hiện hành) năm 2011 trên lĩnh vực Công nghiệp – xây dựng và Thương mại – dịch vụ lần lượt là 35.860 tỷ đồng (chiếm 88,7%) và 3.341 tỷ dồng (chiếm 9%). Với chính sách thu hút đầu tư trong thời gian qua tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lớn theo hướng Công nghiệp – xây dựng và Thương mại – dịch vụ, năm 2021 lần lượt là 109.609,5 tỷ đồng (chiếm 89,8%) và 10.281,6 tỷ đồng (chiếm 8,4%), là huyện có quy mô nền kinh tế đứng đầu tỉnh Long An, chiếm tỷ trọng 34% so toàn tỉnh. Với sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế từ Nông nghiệp sang Công nghiệp – xây dựng, Thương mại – dịch vụ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người dân. Thành tựu phát triển kinh tế của huyện Bến Lức góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế cả nước./.

Thực hiện: 

 Thống kê Bến Lức

Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn từ kết quả Tổng điều tra Kinh tế năm 2021

Số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể tiếp tục tăng nhưng tỷ lệ phân bố các cơ sở cá thể giữa các vùng kinh tế - xã hội không đồng đều.

Tính đến năm 2021, toàn huyện có 6.751 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể với số lao động là 11.982 người, giảm 7,06% về số đơn vị và giảm 4,27% về số lao động so với năm 2016. Đây là mức giảm cao nhất trong thời gian qua do tác động rất lớn của dịch bệnh Covid-19.

Xét theo khu vực kinh tế, số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể khu vực dịch vụ tiếp tục dẫn đầu về số lượng và lao động với hơn 6.380 cơ sở và số lao động là 11.145 người, giảm 14,8% về số cơ sở và giảm 7,6% về số lao động so với năm 2016. Số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể khu vực công nghiệp và xây dựng là 366 cơ sở với số lao động là 837 người, giảm 37,9% về số cơ sở và giảm 37,1% về số lao động so với năm 2016./.
Thực hiện:



Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

Thống kê Bến Lức

HIỂU ĐÚNG VỀ "%" và " ĐIỂM %"

         “Điểm %” và “%” là hai đơn vị riêng biệt và mang những ý nghĩa khác nhau khi nói về sự biến động của các số liệu như lãi suất, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP.

        Tính toán tỷ lệ phần trăm (%) là việc làm phổ biến để so sánh mức độ chênh lệch, tăng giảm của các số liệu. Muốn biết số A lớn hơn số B bao nhiêu %, chỉ cần lấy số A chia cho số B, lấy kết quả trừ đi 1 rồi cuối cùng nhân với 100, tức là (A/B – 1) x 100.

        Ví dụ: Số gà đang chạy trong vườn ngày hôm nay là 15 con (tức A = 15); số gà ngày hôm qua là 10 con (tức B = 10). Số gà hôm nay lớn hơn số gà hôm qua 5 con, quy đổi ra tỷ lệ % là (15/10 – 1) x 100 = 50%.

        Khi bản thân các số A và B đều có dạng %, phép tính cũng được thực hiện tương tự nhưng lúc này sẽ xuất hiện thêm một đơn vị nữa là “điểm %”.

        Giả sử tỷ lệ lạm phát tháng này là 12%, tháng trước là 10%. Vậy tỷ lệ lạm phát tháng này cao hơn tháng trước bao nhiêu %? Câu trả lời là 20%, vì tính theo công thức trên: (12%/10% - 1) x 100 = 20%.

        Nếu làm phép trừ đơn giản 12% - 10% thì kết quả phải là 2 điểm %.

        Như vậy, “điểm %” là đơn vị của kết quả phép tính trừ giữa hai số dưới dạng %, còn muốn dùng đơn vị “%” thì trong công thức tính toán phải có phép chia.

Khi lạm phát tăng từ 8,6% trong tháng 5 lên mức 9,1% trong tháng 6, cách diễn đạt đúng là "lạm phát tăng 0,5 điểm %".

        Tương tự, nếu GDP năm trước tăng trưởng 5%, GDP năm nay tăng trưởng 9%, thì cách diễn đạt đúng là: “Tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm trước 4 điểm %” hoặc “Tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm trước 80%”, vì (9%/5% – 1) x 100 = 80%.

        Nếu nói “Tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm trước 4%” là không chính xác.

        Hôm 27/7, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) kết thúc cuộc họp thường kỳ kéo dài hai ngày và quyết định nâng lãi suất. Có trang báo nói rằng Fed nâng lãi suất thêm 0,75 điểm %, có nơi lại nói là thêm 0,75%. Vậy cách nói nào là đúng?

        Mức trần của lãi suất quỹ liên bang tại Mỹ trước cuộc họp là 1,75%, sau cuộc họp được nâng lên thành 2,5%. Như vậy, nếu làm phép trừ đơn giản thì cách diễn đạt đúng là “Fed nâng lãi suất thêm 0,75 điểm %”.

        Nếu muốn dùng đơn vị % thì cách nói chính xác là “Fed nâng lãi suất thêm 42,85%”, vì đó là kết quả của phép tính (2,5%/1,75% - 1) x 100.

Cách nói “Fed nâng lãi suất thêm 0,75%” tuy đơn giản và ngắn gọn nhưng lại không đúng.

Điểm % và % dễ gây nhầm lẫn.

        Một cách diễn đạt khác cũng thường xuất hiện trên báo chí nước ngoài và ngày càng được sử dụng nhiều ở Việt Nam là “điểm cơ bản”, viết tắt là bps vì được dịch từ “basis point” trong tiếng Anh.

        1 điểm cơ bản (bps) bằng 0,01 điểm %, 75 điểm cơ bản bằng 0,75 điểm %. Vì vậy, “Fed tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản” cũng là cách viết đúng.

        Kể từ tháng 3 đến tháng 7/2022, Fed đã nâng lãi suất 4 lần liên tiếp, tổng mức tăng là 2,25 điểm %, hay nói cách khác là 225 điểm cơ bản. Hiện nay, lãi suất điều hành của Fed đã quay lại mức đỉnh cuối năm 2018.

Fed nâng lãi suất 4 lần liên tiếp từ tháng 3 đến tháng 7/2022.

        Fed còn họp bao nhiêu lần trong năm nay?

        Từ đầu năm đến nay Ủy ban Thị trường mở Liên bang của Fed đã họp 5 lần, trong đó có 4 lần dẫn tới quyết định nâng lãi suất và lần đầu tiên (ngày 25-26/1) giữ nguyên lãi suất.

        Từ nay đến cuối năm, các quan chức của ngân hàng trung ương Mỹ còn họp thêm ba lần nữa vào các ngày 20 - 21/9, 1 - 2/11, và 13 – 14/12.

        Trong bối cảnh lạm phát đang ở vùng cao nhất 40 năm, gần như chắc chắn Fed sẽ tiếp tục nâng lãi suất trong các cuộc họp tới. Tuy nhiên, nhịp độ tăng có thể sẽ thấp hơn trong các cuộc họp vừa qua. Một nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế Mỹ đang phát đi những tín hiệu đáng ngại.

        Hôm 28/7, Cục Thống kê Lao động Mỹ cho biết GDP quý II của nền kinh tế lớn nhất thế giới giảm 0,9%, đánh dấu quý đi xuống thứ 2 liên tiếp.

        Nhiều khả năng lãi suất sẽ không tăng mạnh tới mức 0,75 điểm % như trong cuộc họp tháng 6 và 7 mà chỉ thêm 0,25 - 0,5 điểm %, hoặc 25 – 50 điểm cơ bản. Nếu nói Fed tăng lãi suất 0,25 – 0,5% là chưa chính xác.


nguồn: https://vietnambiz.vn/

Thực hiện: 

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Thống kê Bến Lức

 DOANH NGHIỆP BẾN LỨC 

NHÌN TỪ KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2021

 

 

Tại thời điểm 31/12/2020, toàn huyện có 1.351 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh và số lao động là 78.378 người, tăng 8,5% về số doanh nghiệp và giảm 4,2% về số lao động so với năm 2019, đây là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Tốc độ tăng doanh nghiệp bình quân giai đoạn 2016-2019 là 7,45%/năm; tốc độ tăng lao động trong doanh nghiệp là 1,93%/năm. Tính chung giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng doanh nghiệp bình quân là 8,18%; tốc độ tăng lao động trong doanh nghiệp là 0,67%/năm.

Xét theo loại hình doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước có 1.249 doanh nghiệp, chiếm 92,5% tổng số doanh nghiệp toàn huyện, tăng 9,9% so với năm 2019 và tăng 64,7% so với năm 2016; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 100 doanh nghiệp, chiếm 7,4%, tăng 11,1% so năm 2019 và tăng 28,2% so năm 2016; doanh nghiệp Nhà nước là gần 2 doanh nghiệp, chiếm 0,15% so với tổng doanh nghiệp, ổn định so với năm 2016.

Về lao động, khu vực doanh nghiệp Nhà nước thu hút hơn 250 người, chiếm 0,32% tổng lao động của doanh nghiệp, tăng 1,2% so với năm 2019 và giảm 10% so với năm 2016; khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước là 28.162 người, chiếm 35,93%, giảm 12,7% so năm 2019 và tăng 5,98% so năm 2016; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 49.964 người, chiếm 63,7%, tăng 1,1%  so năm 2019 và tăng 6,9% so năm 2016.

Xét theo khu vực kinh tế, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng doanh nghiệp ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng doanh nghiệp ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Doanh nghiệp khu vực dịch vụ là 709 doanh nghiệp, chiếm 52,47% tổng số doanh nghiệp, tăng 18,56% so với năm 2019 và tăng 62,9% so với năm 2016; doanh nghiệp khu vực công nghiệp - xây dựng là 633 doanh nghiệp, chiếm 46,9%, tăng 0,6%/2019 và tăng 57,1%/2016; doanh nghiệp khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 9 doanh nghiệp, chiếm 0,7%, tăng 8 doanh nghiệp/2019 và tăng 9 doanh nghiệp/2016.

Lao động làm việc trong các doanh nghiệp khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất với số lao động là 70.942 người, chiếm 90,5% tổng số lao động trong doanh nghiệp, giảm 3,7% so với năm 2019 và tăng 4,8% so với năm 2016; lao động doanh nghiệp khu vực thương mại, dịch vụ là 7.259 người, chiếm 9,3% tổng số lao động, giảm 12%/2019 và tăng 22,5%/2016; lao động doanh nghiệp khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 177 người, chiếm 0,2%, tăng 171 lao động/2019 và tăng 177 lao động/2016.

Số hợp tác xã năm 2020 trên địa bàn huyện Bến Lức không nhiều, chủ yếu là các hợp tác xã nhỏ phục vụ cho tiêu chí Nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao trên địa bàn huyện.    

Tính đến 31/12/2020, tổng số hợp tác xã đang hoạt động sản xuất kinh doanh của 4  hợp tác xã; tăng 33% so với năm trước và tăng 50% so với năm 2016. Số lao động làm việc trong hợp tác xã là 44 người, tăng 23 người so năm 2019 và tăng 17 người so với năm 2016.

Qua kết quả TĐT Kinh tế năm 2021 cho thấy, doanh nghiệp là một trong những đối tượng quan trọng tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện trong thời gian qua. Tuy nhiên cũng đặt ra cho nhà quản lý những thách thức không nhỏ trong quá trình lãnh đạo, điều hành nhất là các chính sách về kinh tế, kết cấu hạ tầng, an sinh, xã hội. Đặc biệt là những thách thức về môi trường và an ninh trật tự. Xác định đúng, đủ và dự báo tốt xu hướng phát triển loại hình doanh nghiệp, ngành nghề, quy mô hoạt động.v.v... trong tương lai góp phần xây dựng huyện Bến Lức ngày càng phát triển, ổn định./.
Thực hiện: