"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"
Thứ Hai, 17 tháng 2, 2025
Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025
HTCTTK Tỉnh - Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
1. Khái niệm, phương pháp tính
1.1. Khái niệm
Tổng sản phẩm trên địa bàn là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới tăng thêm của hàng hoá và dịch vụ được tạo ra trên địa bàn tỉnh/thành phố trong một thời gian nhất định (6 tháng, năm). Cụm từ “hàng hóa và dịch vụ cuối cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tổng sản phẩm trên địa bàn được tính theo giá hiện hành và giá so sánh.
1.2. Nội dung, phương pháp tính
a) Nội dung
Nội dung tổng quát của GRDP được xét dưới các góc độ khác nhau:
– Xét về góc độ sử dụng (chi tiêu): GRDP là tổng cầu của nền kinh tế tỉnh, thành phố bao gồm: Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Chính quyền địa phương, tích luỹ tài sản (tích lũy tài sản cố định, tích lũy tài sản lưu động và tích lũy tài sản quý hiếm) và chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
– Xét về góc độ thu nhập, GRDP gồm: Thu nhập của người lao động, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất và giá trị thặng dư sản xuất trong kỳ;
– Xét về góc độ sản xuất: GRDP bằng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian.
b) Phương pháp tính
– Theo giá hiện hành
Có 3 phương pháp tính tổng sản phẩm trên địa bàn
Phương pháp sản xuất: Tổng sản phẩm trên địa bàn bằng (=) Tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế cộng (+) thuế nhập khẩu trừ (-) trợ cấp sản xuất phát sinh từ các đơn vị thường trú trong tỉnh/thành phố.
Công thức tính:
GRDP | = | Tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành | + | Thuế nhập khẩu của tỉnh/thành phố | – | Trợ cấp sản xuất |
Phương pháp thu nhập: Tổng sản phẩm trên địa bàn bằng (=) Tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc, thiết bị. Theo phương pháp này, tổng sản phẩm trên địa bàn gồm 4 yếu tố: thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật quy ra tiền), thuế sản xuất (đã trừ phần trợ cấp cho sản xuất), khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất và thặng dư sản xuất hoặc thu nhập hỗn hợp của tỉnh/thành phố.
Công thức tính:
Tổng sản phẩm trên địa bàn | = | Thu nhập của người lao động từ sản xuất | + | Thuế sản xuất, (đã trừ phần trợ cấp sản xuất) | + | Khấu hao TSCĐ dùng trong sản xuất | + | Thặng dư hoặc thu nhập hỗn hợp |
Phương pháp sử dụng: Tổng sản phẩm trên địa bàn bằng tổng của 3 yếu tố: tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và chính quyền địa phương; tích lũy tài sản (tài sản cố định, tài sản lưu động và tài sản quý hiếm) và chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của các đơn vị trường trú trong tỉnh/thành phố.
Công thức tính:
Tổng sản phẩm trên địa bàn | = | Tiêu dùng cuối cùng | + | Tích luỹ tài sản | + | Chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ |
Về mặt lý thuyết thì có thể tính tổng sản phẩm trên địa bàn theo 3 phương pháp như trên. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay để tính cho một tỉnh/thành phố thì nguồn thông tin rất hạn chế và chưa đủ điều kiện để có thể vận dụng cả 3 phương pháp như đối với toàn bộ nền kinh tế nên việc tính tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh/thành phố chủ yếu theo phương pháp sản xuất.
– Theo giá so sánh
Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh được tính qua những bước trung gian. Vì chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn hoặc giá trị tăng thêm không thể phân tích được thành các yếu tố giá và lượng, nên không có chỉ số giá phù hợp để giảm phát trực tiếp nên được tính gián tiếp bằng hiệu giữa giá trị sản xuất theo giá so sánh và chí phí trung gian theo giá so sánh (Phương pháp tính tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh bằng phương pháp sản xuất).
2. Phân tổ chủ yếu
a) Kỳ 6 tháng: Ngành kinh tế.
b) Kỳ năm:
– Ngành kinh tế;
– Loại hình kinh tế.
3. Kỳ công bố: 6 tháng, năm.
4. Nguồn số liệu
– Chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương;
– Báo cáo quyết toán tài chính của các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình kinh tế, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp;
– Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, các cuộc điều tra doanh nghiệp, điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và điều tra chuyên đề khác…
5. Cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp: Tổng cục Thống kê; Cục Thống kê.
HTCTTK huyện – Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp huyện
1.Khái niệm, phương pháp tính
Khái niệm: Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là địa bàn huyện) là giá trị của những sản phẩm vật chất và dịch vụ hoàn thành (hoặc quy ước hoàn thành) do các cơ sở sản xuất thuộc tất cả các ngành kinh tế, loại hình kinh tế, khu vực kinh tế tạo ra trên địa bàn huyện trong khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm).
Phạm vi: Toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch vụ đã hoàn thành hoặc quy ước hoàn thành của các đơn vị thường trú trên địa bàn.
Nguyên tắc:
– Đảm bảo nguyên tắc thường trú địa bàn cấp huyện: Đơn vị có trung tâm lợi ích kinh tế trên địa bàn cấp huyện và thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trên 1 năm;
– Thực hiện phân bổ đối với các đơn vị hạch toán toàn ngành;
– Tính theo số liệu thực tế phát sinh trên địa bàn (không cộng/
trừ chi nhánh);
– Hoạt động xây dựng được xác định mức độ hoàn thành theo quy ước;
– Tổng giá trị sản phẩm theo ngành trên địa bàn cấp huyện của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không lớn hơn giá trị sản xuất ngành đó của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tương ứng. Trường hợp tổng giá trị sản phẩm theo ngành trên địa bàn cấp huyện lớn hơn giá trị sản xuất trên địa bàn cấp tỉnh, số liệu giá trị sản xuất của tỉnh, thành phố được coi là kết quả chính thức, phần giá trị chênh lệch giữa kết quả chính thức và giá trị sản phẩm theo ngành trên địa bàn cấp huyện được phân bổ giảm theo tỷ trọng lao động đóng góp của địa bàn cấp huyện.
Phương pháp tính: Giá trị sản phẩm của mỗi ngành được tính theo phương pháp phù hợp với đặc điểm ngành và mức độ khả thi của nguồn thông tin, cụ thể:
a) Theo giá hiện hành
(1) Hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản; hoạt động khai khoáng; sản xuất điện; hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo (những hoạt động có thể thống kê được sản lượng sản phẩm và đơn giá sản xuất bình quân)
Công thức tính:
| Giá trị sản phẩm | = | Sản lượng sản phẩm sản xuất | x | Đơn giá sản xuất sản phẩm bình quân |
(2) Hoạt động dịch vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản; hoạt động công nghiệp (trừ hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo) và các hoạt động dịch vụ mang tính “thị trường” (trừ dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm)
Công thức tính:
| Giá trị sản phẩm | = | Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ | + | Trợ cấp sản xuất (nếu có) |
(3) Hoạt động phân phối điện, nước; cung cấp khí bằng đường ống; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy; dịch vụ lưu trú, ăn uống; kinh doanh bất động sản; dịch vụ du lịch; dịch vụ xổ số
Công thức tính:
| Giá trị sản phẩm | = | Doanh thu thuần bán sản phẩm/ dịch vụ trong kỳ | – | Trị giá vốn hàng bán ra/Trị giá vốn hàng chuyển bán/ Chi trả hộ khách hàng/Chi trả thưởng | + | Trợ cấp sản xuất (nếu có) |
(4) Hoạt động xây dựng; hoạt động dịch vụ phi thị trường và những hoạt động khác không tính được theo các phương pháp trên
Công thức tính:
| Giá trị sản phẩm | = | Tổng chi phí sản xuất | + | Lợi nhuận thuần (nếu có) | + | Trợ cấp sản xuất (nếu có) |
Trong tổng chi phí sản xuất gồm có: Chi phí vật chất và chi phí dịch vụ; Thu nhập của người lao động; Khấu hao tài sản cố định; Thuế sản xuất khác.
(5) Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm
Công thức tính:
| Giá trị sản phẩm | = | Giá trị sản xuất trên địa bàn tỉnh | x | Cơ cấu lao động/Chi phí hoạt động của ngành trên địa bàn huyện so với tổng số lao động/Chi phí hoạt động của ngành trên địa bàn tỉnh |
b) Theo giá so sánh
(1) Hoạt động khai khoáng; sản xuất điện; hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo (những hoạt động có thể thống kê được sản lượng sản phẩm và đơn giá bình quân kỳ gốc)
Công thức tính:
| Giá trị sản phẩm | = | Sản lượng sản phẩm sản xuất | x | Đơn giá sản xuất sản phẩm bình quân kỳ gốc |
Hoặc:
| Giá trị sản phẩm | = | Giá trị sản phẩm kỳ trước kỳ báo cáo | x | Tốc độ phát triển sản lượng sản phẩm sản xuất kỳ báo cáo so với kỳ trước kỳ báo cáo |
(2) Hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản; các hoạt động khác
Công thức tính:
| Giá trị sản phẩm | = | Giá trị sản phẩm kỳ báo cáo |
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm/Chỉ số giá |
2.Phân tổ chủ yếu: Ngành kinh tế.
3.Kỳ công bố: Năm.
4.Nguồn số liệu
– Điều tra thống kê;
– Điều tra bổ sung do địa phương chủ trì phối hợp với cơ quan thống kê cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện để bổ sung các thông tin còn thiếu;
– Chế độ báo cáo thống kê;
– Dữ liệu hành chính.
5.Cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp
– Chủ trì: Ủy ban nhân dân cấp huyện;
– Phối hợp: Cục thống kê; Cơ quan Thống kê cấp huyện
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2025
Thứ Tư, 25 tháng 12, 2024
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng: Ngành Thống kê ngày càng khẳng định vai trò, vị thế và uy tín trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Thứ Tư, 18 tháng 12, 2024
Vai trò của Thống kê trong kỷ nguyên mới
Trong kỷ nguyên phát triển mới, thống kê kết hợp với khoa học dữ liệu, kỷ nguyên số tạo ra lực lượng sản xuất mới; thống kê là một công cụ chiến lược góp phần định hình con đường phát triển của đất nước. Để thực hiện các mục tiêu trong kỷ nguyên mới, các quyết sách chính trị và kinh tế phải dựa trên một hệ thống thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, minh bạch và kịp thời.
Khoa học thống kê tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội
Trong kỷ nguyên số hóa, khối lượng dữ liệu được tạo ra hàng ngày là vô cùng lớn. Từ các hoạt động trên mạng xã hội, giao dịch thương mại điện tử, đến internet vạn vật (Internet of Things), dữ liệu được thu thập từ mọi nguồn và mọi lúc. Thống kê đóng vai trò then chốt trong việc thu thập, phân tích và hiểu rõ ý nghĩa của những dữ liệu này. Các công cụ và phương pháp thống kê giúp chuyển đổi dữ liệu thô thành thông tin có giá trị, hỗ trợ việc ra quyết định chính xác và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, thống kê còn khám phá kiến thức mới, những quy luật mới ẩn giấu bên trong các dữ liệu, biến dữ liệu thành nguồn lực phát triển mới, mở ra các cơ hội phát triển và tri thức mới.
Trong lĩnh vực kinh tế, thống kê được sử dụng để đo lường và đánh giá các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, phân tích xu hướng phát triển, dự báo kinh tế tăng trưởng hay suy thoái và đánh giá hiệu quả của các chính sách kinh tế. Các doanh nghiệp sử dụng thống kê để phân tích hành vi khách hàng, tối ưu hóa chiến lược marketing, và quản lý rủi ro. Việc phân tích dữ liệu thống kê giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng, từ đó cải thiện sản phẩm và dịch vụ của mình.
Trong y học, thống kê đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu dịch tễ, thử nghiệm lâm sàng và phân tích hiệu quả các phương pháp điều trị. Thống kê giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự phân bố của bệnh tật, yếu tố nguy cơ, hiệu quả của các biện pháp can thiệp và cải thiện các chính sách y tế công cộng, chất lượng chăm sóc sức khỏe.
Trong giáo dục, thống kê là công cụ được sử dụng để đánh giá chất lượng giáo dục, phân tích kết quả học tập, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh. Thống kê giáo dục giúp các nhà quản lý giáo dục đưa ra các quyết định dựa trên dữ liệu, từ đó cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập.
Trong quản lý doanh nghiệp, thống kê được sử dụng để phân tích hiệu quả hoạt động, đánh giá năng suất lao động, và quản lý chất lượng. Thống kê quản lý giúp các nhà lãnh đạo hiểu rõ hơn về hiệu quả của các bộ phận trong công ty, từ đó đưa ra các biện pháp cải tiến và tối ưu hóa quy trình sản xuất.
Trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (machine learning) không thể thiếu vai trò của thống kê. Các mô hình AI và học máy đều dựa trên các nguyên lý thống kê để học từ dữ liệu và dự đoán tương lai. Thống kê cung cấp cơ sở lý thuyết và các công cụ phân tích dữ liệu để xây dựng và kiểm tra các mô hình AI. Với sự hỗ trợ của thống kê, AI có thể giải quyết các vấn đề phức tạp, mang lại nhiều lợi ích trong nhiều lĩnh vực và hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh.
Vai trò của ngành Thống kê trong kỷ nguyên mới
Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử phát triển đất nước, thể hiện những bước chuyển mình mạnh mẽ về tư duy và cách thức lãnh đạo, điều hành đất nước để đạt được những khát vọng, thành tựu vĩ đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tầm nhìn chiến lược sâu rộng và quyết đoán, các ưu tiên được đặt vào cải cách hệ thống chính trị tinh - gọn - mạnh, hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực để đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng giao thông, năng lượng và chuyển đổi số. Từ đó khơi dậy niềm tin, khát vọng và tinh thần đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.
Kỷ nguyên mới không chỉ mở ra cơ hội để Việt Nam bứt phá và khẳng định vị thế trên trường quốc tế, mà còn đặt ra những yêu cầu cao về sự quyết tâm, sáng tạo và kiên trì trong lãnh đạo. Mục tiêu lớn lao đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển với thu nhập cao, xã hội công bằng, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới, góp phần hiện thực hóa khát vọng hùng cường của dân tộc. Để thực hiện các mục tiêu trong kỷ nguyên mới, các quyết sách chính trị và kinh tế phải dựa trên một hệ thống thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, minh bạch và kịp thời.
Trong suốt quá trình phát triển của đất nước, vai trò của Cơ quan Thống kê Trung ương luôn khẳng định được sứ mệnh, vai trò quan trọng trong điều phối hoạt động thống kê nhà nước và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành; đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin thống kê ngày càng tăng của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế. Công tác thống kê luôn khẳng định là một ngành khoa học, chuyên môn, chuyên sâu để phản ánh tất cả các hoạt động trong bức tranh tổng thể về kinh tế - xã hội của đất nước. Do đó, hoạt động thống kê liên quan đến hầu hết các ngành, lĩnh vực như: Kinh tế, xã hội, sinh học, y học, khí tượng thủy văn... Trong kỷ nguyên mới, dữ liệu thống kê trở thành tài nguyên quý giá, là công cụ, cơ sở quan trọng trong các chính sách vươn mình của đất nước, góp phần quan trọng trong việc đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Trong kỷ nguyên này, các hoạt động kinh tế diễn ra nhanh chóng với tốc độ phát triển cao, gắn với thời đại số hóa, dữ liệu được tạo ra với khối lượng lớn chưa từng có. Cơ quan Thống kê Trung ương đóng vai trò quan trọng trong thu thập, phân tích và diễn giải khối lượng dữ liệu khổng lồ này, giúp các nhà Lãnh đạo đưa ra các quyết định chiến lược trong những bước phát triển quan trọng của đất nước.
Dữ liệu thống kê góp phần giới thiệu kỷ nguyên mới của Việt Nam ra thế giới. Thống kê là một ngành có tính hội nhập cao, sự gắn kết và hội nhập trong thống kê giữa các nước được thể hiện qua các chỉ tiêu thống kê có cùng tiêu chuẩn và phương pháp luận được thống nhất trên toàn thế giới. Trên thực tế, để so sánh sự phát triển giữa các quốc gia thì phải so sánh cùng một chỉ tiêu; hoặc để phản ánh sự phát triển về kinh tế, xã hội của thế giới thì phải tính toán dựa trên chỉ tiêu của từng quốc gia. Chính vì vậy, Thống kê là một ngành đặc thù mang tính khoa học, tính toàn cầu, tính quốc tế và chuẩn mực chung. Thông qua dữ liệu thống kê chính xác và minh bạch, Việt Nam đã xây dựng niềm tin với các nhà đầu tư và các quốc gia phát triển, thúc đẩy hợp tác và đầu tư vào một nền kinh tế năng động, đồng thời khẳng định vị thế là một trong những thị trường lớn trên thế giới.
Với vai trò cung cấp thông tin chi tiết về mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội và môi trường, trở thành công cụ không thể thiếu trong việc giúp các nhà lãnh đạo đánh giá tình hình thực tế và đưa ra các chiến lược phát triển phù hợp. Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi hệ thống thống kê phải không ngừng cải tiến và ứng dụng công nghệ mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, từ đó giúp Việt Nam phát triển một cách bền vững và hiệu quả.
Thống kê không chỉ giúp theo dõi, đo lường những biến động trong nền kinh tế, xã hội mà còn cung cấp thông tin về chất lượng sống của người dân, từ đó giúp các cơ quan nhà nước đưa ra các quyết định đúng đắn và phù hợp với thực tế. Trong kỷ nguyên số, thống kê đã chuyển mình mạnh mẽ từ những phương pháp truyền thống sang các phương pháp hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo vào quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu.
Tóm lại, Kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam chính là kỷ nguyên mà thống kê sẽ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng, góp phần xây dựng một quốc gia hùng cường, hiện đại và bền vững./.
TS. Nguyễn Trí Duy
Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học Thống kê - TCTK
Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024
Thứ Ba, 26 tháng 11, 2024
Tuần Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Long An lần 2 năm 2024 diễn ra từ ngày 28/11 đến ngày 04/12/2024
Lễ khai mạc Tuần Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Long An lần 2 năm 2024 với chủ đề "Long An - Khát vọng sông Vàm" được diễn ra vào lúc 20 giờ ngày 28/11/2024 với chương trình nghệ thuật sống động giới thiệu, quảng bá văn hóa, hình ảnh Long An, trong đó nổi bật là tiết mục trình diễn ánh sáng trên bầu trời bằng thiết bị bay không người lái.
Thứ Năm, 24 tháng 10, 2024
Vai trò Chi cục Thống kê trong góp phần “nâng cao chất lượng chuẩn bị văn kiện” Đại hội Đảng cấp huyện
Điều 4, Luật Thống kê năm 2015 (Luật sửa đổi, bổ sung) đã xác định chức năng hoạt động của cơ quan thống kê nhà nước: “Đáp ứng yêu cầu đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch, qui hoạch chính sách, quản lý điều hành phát triển kinh tế- xã hội”. Chi cục Thống kê quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chi cục Thống kê khu vực (gọi chung là Chi cục Thống kê) là cơ quan thống kê nhà nước cấp huyện thuộc Cục Thống kê, thực hiện chức năng trên nhằm đảm bảo thông tin thống kê trung thực, đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời phục vụ Đảng bộ và chính quyền cấp huyện, đặc biệt trong thời gian chuẩn bị Văn kiện Đại hội Đảng bộ cấp huyện. Do đó, Chi cục trưởng Chi cục Thống kê được Cấp ủy địa phương quyết định là một thành viên của Tiểu ban Văn kiện Đại hội Đảng bộ cấp huyện nhiệm kỳ 2025- 2030.
Để làm tốt nhiệm vụ trong Tiểu ban Văn kiện, góp phần hoàn thành tốt yêu cầu “Nâng cao chất lượng chuẩn bị Văn kiện” theo Chỉ thị 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Chi cục Thống kê cần chủ động triển khai các công việc sau:
Một là, chuẩn bị phục vụ cho biên tập Văn kiện. Văn kiện của cấp ủy trình Đại hội gồm 02 báo cáo chủ yếu là Báo cáo chính trị của Đảng bộ và Báo cáo kiểm điểm của Cấp ủy.
Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị yêu cầu “Báo cáo chính trị của Đảng bộ phải đánh giá khách quan, trung thực, sát thực tế” trong 5 năm tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội, đồng thời đề ra “Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thiết thực khả thi, hiệu quả cho nhiệm kỳ 2025- 2030”. Chi cục Thống kê, trước tiên phải chọn ra danh sách những chỉ tiêu thống kê và kế hoạch trong báo cáo chính trị sử dụng. Sau đó, tiến hành tập trung, kiểm tra, hệ thống hóa số liệu các chỉ tiêu thống kê đã được Chi cục Thống kê tính toán, tổng hợp cung cấp cho việc đánh giá mục tiêu cụ thể báo cáo giữa nhiệm kỳ và hàng năm. Cần chú ý, chỉ tiêu thống kê phải phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch tương ứng về các mặt: Tên gọi, nội dung và phương pháp tính nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch của mục tiêu trong báo cáo chính trị của Đảng bộ. Chỉ tiêu kế hoạch thường ít hơn chỉ tiêu thống kê, chỉ tiêu kế hoạch phản ánh những nội dung lớn, cốt lõi... của tình hình kinh tế- xã hội cấp huyện, công tác xây dựng Đảng. Chỉ tiêu kế hoạch thể hiện mục tiêu cụ thể trong báo cáo chính trị.
Việc trình bày số liệu thống kê và kế hoạch, một số dự báo số liệu của chỉ tiêu kế hoạch cần lưu ý:
- Chỉ tiêu thống kê cần được trình bày theo dãy thời gian 5 năm, trong đó số liệu thống kê thực hiện năm 2021, 2022, 2023, sơ bộ năm 2024 và ước năm 2025.
- Dùng phương pháp dự báo thống kê, dự báo các chỉ tiêu cho các năm 2026, 2027, 2028, 2029 và 2030. Đây là cơ sở rất quan trọng và khoa học để Ban biên tập Dự thảo báo cáo chính trị về các chỉ tiêu kế hoạch (mục tiêu cụ thể).
- Chỉ tiêu kế hoạch có tên tương ứng với chỉ tiêu thống kê, nhưng có trị số, mức độ ghi trong báo cáo chính trị tại năm 2025.
- Tính toán các chỉ tiêu dẫn xuất (Tốc độ tăng bình quân, tỷ lệ, tỷ trọng...).
- Cần phân biệt cách tính trung bình cộng và trung bình nhân (Tính tốc độ phát triển, tốc độ tăng phải dùng phương pháp tính trung bình nhân).
Hai là, biên tập báo cáo chính trị. Biên tập báo cáo chính trị là phân tích, đánh giá trung thực, khách quan, sát thực tế của từng nội dung nhiệm vụ trong báo cáo. So sánh với chỉ tiêu kế hoạch để xác định mức độ hoàn thành kế hoạch, mục tiêu cụ thể của Nghị quyết nhiệm kỳ 2020- 2025. Từ đó tìm ra hạn chế, ưu điểm, bài học kinh nghiệm của việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội. Trên cơ sở hạn chế, bài học kinh nghiệm, dự báo các chỉ tiêu thống kê chủ yếu và nguồn lực mới tham mưu cho Ban biên tập đưa ra chỉ tiêu kế hoạch cho nhiệm kỳ 2025- 2030 “Đề ra các giải pháp thiết thực, khả thi, hiệu quả để thực hiện nhiệm kỳ mới và với tầm nhìn xa hơn”. Bộ chỉ tiêu cho nhiệm kỳ mới được xác định khoa học, khả thi sẽ thuận lợi cho công tác thống kê trong nhiệm kỳ sau.
Ba là, triển khai viết các chuyên đề phản ánh đặc điểm riêng có của cấp huyện như: Làng nghề, văn hóa, giáo dục, đời sống nhân dân, du lịch... chuyên đề được hoàn thiện làm Ấn phẩm phục vụ để làm rõ hơn những nội dung có liên quan trong báo cáo Chính trị của cấp huyện.
Bốn là, công bố, phổ biến và truyền thông kết quả đạt được nhiệm kỳ 2020- 2025 và mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2025- 2030. Đây là một công việc rất quan trọng, góp phần giúp cấp ủy cấp dưới, tổ chức cơ quan doanh nghiệp và nhân dân dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ nghiên cứu... từ đó, có những ý kiến tâm huyết, xây dựng và phù hợp... đóng góp xây dựng báo cáo chính trị. Đặc biệt là tạo ra sự đoàn kết, thống nhất cao, nhất là những vấn đề mới, vấn đề khó như Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị chỉ ra. Hình thức thể hiện là các biểu thống kê với các chỉ tiêu thống kê chủ yếu nhiệm kỳ 2020- 2025. Bảng thực hiện mục tiêu Đại hội nhiệm kỳ 2020- 2025. Bảng mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội nhiệm kỳ 2025- 2030 cần xây dựng đồ họa thông tin (Infographic) với các biểu tương ứng trên. Các tờ gấp được biên tập trên cơ sở số liệu của các biểu, bảng này nhưng kích thước nhỏ, dễ xem, dễ dùng... Tài liệu này và các chuyên đề được tuyên truyền trên hệ thống thông tin đại chúng và tại Hội trường nơi diễn ra Đại hội Đảng các cấp.
Năm là, tham gia giải thích và giải trình về số liệu thống kê và đánh giá trong báo cáo Chính trị. Đây là bước thực hiện quan trọng theo Luật Thống kê qui định cho mọi đảng viên, tổ chức, đơn vị và nhân dân. Vì thế, người của Chi cục Thống kê được phân công làm công việc này phải tinh thông nghiệp vụ thống kê, hiểu biết sâu sắc về hoạt động Đảng, quản lý nhà nước...Trong quá trình giải thích, giải trình Chi cục Thống kê cần khẳng định về ý nghĩa, phương pháp tính chỉ tiêu thống kê, hoạt động thống kê tuân theo qui định Luật Thống kê (Sửa đổi năm 2015), chuẩn mực thống kê quốc tế và trách nhiệm của người làm công tác thống kê. Có tình huống phải dùng những chỉ tiêu thống kê khác liên quan để giải thích (Sản lượng điện tiêu thụ đối với khách hàng là doanh nghiệp, cơ sở SXKD cá thể; Kim ngạch xuất - nhập khẩu trên địa bàn; Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn... để giải thích cho tăng trưởng kinh tế, hoặc so sánh cùng chỉ tiêu thống kê với địa phương khác). Phải hiểu sâu sắc và cách tính số trung bình của tổng thể (là số san bằng các đơn vị của tổng thể); độ biến thiên (chỉ ra sự khác nhau của các đơn vị trong tổng thể); cách dùng phương pháp dãy số biến động theo thời gian và dự báo cũng là một cơ sở để giải thích, giải trình...
Những gợi mở trên đây là những kinh nghiệm, kỹ năng có được trong thực tiễn hoạt động thống kê. Việc cung cấp số liệu đầy đủ, xác thực, đóng góp vào xây dựng Văn kiện Đại hội nhiệm kỳ tới tại địa phương của các Chi cục Thống kê là nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào thành công chung của Đại hội Đảng bộ cấp huyện nhiệm kỳ 2025-2030.
Trần Đức Văn, Chi cục trưởng Chi cục Thống kê thành phố Từ Sơn, CTK tỉnh Bắc Ninh







