"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2024

 

Long An: Hiệu quả từ trồng chanh ứng dụng công nghệ cao


        Thực hiện Nghị quyết 11 của Tỉnh ủy và Nghị quyết 40 của HĐND tỉnh quy định về chính sách hỗ trợ Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An giai đoạn 2021 – 2025, huyện Bến Lức chọn cây chanh để thực hiện đề án. Đến nay, toàn huyện có 2.799 ha/2.700 ha chanh ứng dụng công nghệ cao, vượt kế hoạch đề ra. Để đạt được kết quả này, ngành nông nghiệp huyện Bến Lức đã triển khai nhiều mô hình, chính sách hỗ trợ người trồng, giúp nâng cao chất lượng, sản lượng chanh không hạt, tăng thu nhập cho người dân. Ghi nhận của phóng viên THQHVN tại huyện Bến Lức.

        Thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên cây chanh, đến nay toàn tỉnh Long An có hơn 11.370 ha trồng chanh không hạt. Trong đó, huyện Bến Lức có hơn 7.100 ha chanh, với hơn 6.000 ha đang cho trái. Mỗi năm, sản lượng quả chanh của Bến Lức vào khoảng 100 nghìn tấn.
        Vườn chanh hơn 2 ha này là của gia đình ông Cư tại ấp 1, xã Bình Đức, huyện Bến Lức – một trong những hộ dân được Phòng Nông nghiệp huyện chọn làm điểm về trồng chanh ứng dụng công nghệ cao. Được hỗ trợ giống chanh; phân bón hữu cơ; chi phí lắp đặt hệ thống tưới nước tiết kiệm; hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh,… Sau gần 2 năm thực hiện quy trình chăm sóc do Phòng Nông nghiệp hướng dẫn, kết quả, vườn chanh của ông Cư xanh tốt, cho quả to và đẹp.
        Hơn 5 năm chuyển từ trồng chanh truyền thống sang ứng dụng công nghệ cao, ông Quốc ngụ tại ấp 6, xã Bình Đức, huyện Bến Lức cho biết, chi phí đầu tư trồng chanh giảm, thu nhập thì tăng lên.
        Giai đoạn 2021-2025, huyện Bến Lức đã triển khai xây dựng vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao tại xã Thạnh Hoà với 404ha/400ha và xã Thạnh Lợi với 334ha/400ha; triển khai 23 mô hình điểm về trồng chanh ứng dụng công nghệ cao; Nhân rộng mô hình chanh đạt tiêu chuẩn xuất khẩu; Tổ chức nhiều lớp tập huấn; chuyển giao khoa học - kỹ thuật; hỗ trợ giống chanh; hệ thống tưới tiết kiệm; thực hiện xác nhận cấp 4 mã vùng trồng trên cây chanh,…
        Trồng chanh ứng dụng công nghệ cao đang mở ra nhiều cơ hội phát triển cho nông dân Bến Lức, bởi giá cả thu mua cao hơn bình thường từ 2.000-5.000 đ/kg. Ngoài nguồn vốn của huyện hỗ trợ cho nông dân thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hỗ trợ đầu tư hạ tầng, kỹ thuật vùng chanh gần 70 tỷ đồng, tạo điều kiện tưới tiêu, đi lại, vận chuyển nông sản, … giúp giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho người trồng chanh.

Nguồn: https://quochoitv.vn/long-an-hieu-qua-tu-trong-chanh-ung-dung-cong-nghe-cao-238809.htm;    Mỹ Tho -Văn Trình


















Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

GDP 9 tháng năm 2024 tăng 6,82%

     Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2024 ước tính tăng 7,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,58%, chỉ cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm 2021 trong giai đoạn 2020-2024, đóng góp 4,08% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,11%, đóng góp 48,88%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là điểm sáng của nền kinh tế với tốc độ tăng 11,41%, đây là mức tăng cao nhất của cùng kỳ các năm trong 6 năm gần đây; khu vực dịch vụ tăng 7,51%, đóng góp 47,04%.

     GDP 9 tháng năm 2024 ước tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,20%, đóng góp 5,37% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,19%, đóng góp 46,22%; khu vực dịch vụ tăng 6,95%, đóng góp 48,41%.



                                                                        

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2024

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Cán bộ sợ trách nhiệm - 'căn bệnh' cần chữa trị ngay

(nguồn: https://baolongan.vn/can-bo-so-trach-nhiem-can-benh-can-chua-tri-ngay-a182704.html)

        


    Nghe các cựu trào hai thời kháng chiến kể thời còn đánh giặc căng thẳng cũng có dạng cán bộ (CB) chuyên “chém vè” hoặc “núp lùm” khi được phân công vào vùng địch hoặc khi có địch càn bố không dám chống càn, giặc đến là lủi bụi trốn mất. Đó là dạng CB nhát gan “sọc dưa”.

        “Sọc dưa” là từ của trẻ con ở quê chơi đá cá lia thia. Phần nhiều cá lia thia trống rất hăng khi đối mặt với địch thủ. Vào trận thì đá quyết liệt dù có bị địch thủ đá trầy vi, tróc vảy, tét mắt vẫn kiên cường thà chết chứ không chạy. Ngược lại cũng có con khi đá qua bóng, qua kính thì phùng mang, mun màu rất hăng nhưng khi thực sự lâm trận, vừa thấy địch thủ đã biến từ màu mun thành “sọc dưa” và tìm nơi trốn chạy. Có không ít câu chuyện vừa tếu, vừa châm dạng CB nhát gan khi bình yên không có địch càn thì nói bằng trời, khi địch càn tới thì “lủi bụi núp lùm” nhanh nhất có thể để được an toàn mặc cho đồng đội ra sao thì ra. Đó là những CB “sọc dưa”. Cũng theo CB cựu trào, còn có CB “chạy chỉ” nhằm ám chỉ dạng CB nhát gan nhưng thâm hiểm hơn. Đó là dạng CB vừa nhát gan, vừa mất chất, bị “chạy chỉ” như củ khoai mì (sắn) bị nước. Khi khoai mì đã “chạy chỉ” có thể gây độc hại, ăn vào bị đau bụng, ói mửa, chết người.

        Trong thời bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng vậy, trong đội ngũ CB ở từng đơn vị, cơ quan cũng có nhiều dạng CB và phần nhiều là CB có năng lực, phẩm chất, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói và làm đi đôi, dám đấu tranh bảo vệ cái đúng, trung thực phê bình xây dựng, không ngại khó khăn, gian khổ, luôn có tư duy, tầm nhìn đột phá, tìm ra những giải pháp mới hiệu quả, có tính sáng tạo trong công việc,... Rõ ràng đây là dạng CB tích cực rất cần thiết cho công cuộc đổi mới trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nước mạnh, dân giàu hiện nay.

        Ngược lại, dạng CB “núp lùm” làm việc với tâm thế “được chăng hay chớ”, được không mừng, mất không lo, ăn như xáng cạp (lợi ích), làm như lục bình trôi (trách nhiệm), luôn lánh nặng tìm nhẹ, dễ làm khó đẩy, đá trái bóng trách nhiệm đi càng xa càng tốt. Dạng CB này rất sợ đổi mới, cứ đường mòn mà đi, lối cũ mà về, thụ động thỉnh thị cấp trên, xin cấp dưới góp ý để gọi là “dân chủ” 2 chiều; đúng, trúng là thành tích của mình, sai, trật là do khách quan trên dưới. Bao giờ dạng CB này cũng yên tâm nằm trong “vùng an toàn”. Hệ quả tất yếu của dạng CB “núp lùm”, “chạy chỉ”, “sọc dưa” này là nguyên nhân của trì trệ, ùn tắc công việc, gây thiệt hại không nhỏ cho sự tiến lên của đất nước. Rõ ràng trong thời Cách mạng công nghiệp 4.0, mọi sự trì trệ, làm chậm tiến độ phát triển KT-Xh đồng nghĩa với sự tiếp tay cho giặc. Tên “giặc” ngày nay có tên là trì trệ, chậm tiến.

        Trị bệnh, chữa lành cho “căn bệnh” này là việc cần làm ngay. Đây là trách nhiệm đầu tiên của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị các cấp. Trước hết, người đứng đầu phải thực sự tiên phong, gương mẫu trong thực hiện “7 dám”. Tiếp đến là nắm rõ công tác CB trong đơn vị mình cả về tư tưởng và tổ chức, qua đó đánh giá thực chất, nhận diện rõ nhóm CB tích cực, nhóm có khả năng dễ nhiễm “bệnh” “sợ trách nhiệm” để có biện pháp nâng chất, nâng tầm, xây dựng tập thể đơn vị vững về tư tưởng, mạnh về tổ chức, từng cá nhân dám dấn thân lao vào công việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Tất nhiên người thủ trưởng cần kịp thời biểu dương, khen thưởng những tấm gương tận tụy, tận tâm với công việc, đã làm thì phải đạt hiệu quả, không bàn ra, bàn lùi, dám chịu trách nhiệm khi thất bại,... Song song với công tác tư tưởng là công tác tổ chức. Công tác góp ý phê bình, phê phán trực diện những cá nhân mắc “virút” sợ trách nhiệm được thực hiện theo định kỳ để chính cá nhân đó tự soi, tự sửa cũng là biện pháp hữu hiệu.

        Tóm lại, đơn thuốc trị bệnh “sọc dưa”, “chạy chỉ” đang có ở một bộ phận nhỏ CB hiện nay gồm: 4 đức căn cốt của CB: Cần - kiệm - liêm - chính. “7 dám” trong thực thi nhiệm vụ: Dám nghĩ - dám nói - dám làm (nói đi đôi với làm) - dám sáng tạo - dám chấp nhận thất bại - dám chịu trách nhiệm,… Và cuối cùng là “2 tự”: Tự soi và tự sửa để không ngừng tự hoàn thiện trách nhiệm của mình trước Đảng, Nhân dân./.

L.A.D

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2024

HOẠT ĐỘNG DOANH  NGHIỆP THÁNG 8/2024
TỈNH LONG AN 

        Trong tháng 8/2024, có 216 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 3% so với cùng kỳ), tổng số vốn đăng ký 1.491 tỷ đồng (tăng 33% so với cùng kỳ); có 37 doanh nghiệp thông báo tạm ngừng hoạt động và hiện nay đã có thông báo hoạt động trở lại (tăng 105% so với cùng kỳ); có 48 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động kinh doanh (giảm 11% so với cùng kỳ); giải thể 21 doanh nghiệp (giảm 32% so với cùng kỳ).

Hình 5: Tình hình doanh nghiệp 8 tháng năm 2024

so cùng kỳ năm 2023

Anh-tin-bai

 

        Trong 8 tháng đầu năm 2024, có 1.743 doanh nghiệp được thành lập mới (tăng 45% so với cùng kỳ), tổng số vốn đăng ký 15.193 tỷ đồng (tăng 26%); có 336 doanh nghiệp thông báo tạm dừng hoạt động và hiện nay đã có thông báo hoạt động trở lại (tăng 18%); tạm ngừng hoạt động kinh doanh 682 doanh nghiệp (tăng 27%); giải thể 165 doanh nghiệp (giảm 1%).

Nguồn: Cục Thống kê Long An

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2024

SỐ LIỆU THỐNG KÊ 


        Số liệu thống kê là thông tin thống kê biểu thị bằng những con số, phản ánh hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể, được tạo ra trong quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích và dự báo thống kê. Số liệu thống kê bao gồm: Số liệu thống kê ước tính; số liệu thống kê sơ bộ; số liệu thống kê chính thức.

        Có chỉ tiêu thống kê xuất hiện cả 3 loại số liệu này, như chỉ tiêu GRDP. Ví dụ: Số liệu ước tính GRDP quý I được công bố vào ngày 25/3 hằng năm; số liệu sơ bộ GRDP quý I được công bố vào ngày 29/5 hằng năm; số liệu chính thức GRDP được công bố vào ngày 29/9 năm thứ hai kế tiếp năm báo cáo.
       Có chỉ tiêu chỉ xuất hiện dưới dạng số liệu thống kê chính thức như chỉ số giá tiêu dùng (CPI), số vụ tai nạn giao thông, số vụ cháy...
        1. Số liệu thống kê ước tính
       Số liệu thống kê ước tính là số liệu thống kê dự tính trước toàn bộ kết quả của hiện tượng kinh tế - xã hội còn đang tiếp diễn, được tổng hợp từ số liệu của kỳ đã diễn ra, cập nhật theo thực tế và số liệu của kỳ sẽ diễn ra, sử dụng phương pháp chuyên môn để dự tính.
Ví dụ: Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội (GRDP) năm 2019 theo giá so sánh ước tính tăng 7,62% so với năm trước (số liệu Tổng cục Thống kê ước tính tại thời điểm tháng 11/2019).
        2. Số liệu thống kê sơ bộ
        Số liệu thống kê sơ bộ là số liệu thống kê phản ánh đầy đủ kết quả của hiện tượng kinh tế - xã hội đã diễn ra trong khoảng thời gian và không gian cụ thể nhưng chưa được khẳng định, còn phải được thẩm định, rà soát thêm.
Ví dụ: Tổng sản phẩm trên địa bàn Thành phố Hà Nội (GRDP) năm 2019 theo giá so sánh sơ bộ tăng 7,63% so với năm trước (số liệu Tổng cục Thống kê tính toán sơ bộ tại thời điểm tháng 3/2020).
        3. Số liệu thống kê chính thức
        Số liệu thống kê chính thức là số liệu thống kê phản ánh đầy đủ, chính xác kết quả của hiện tượng kinh tế - xã hội đã diễn ra trong khoảng thời gian và không gian cụ thể đã được xử lý, tổng hợp, thẩm định và khẳng định.
Ví dụ: Tổng sản phẩm trên địa bàn Thành phố Hà Nội (GRDP) năm 2019 theo giá so sánh tăng 7,72% so với năm trước (số liệu chính thức Tổng cục Thống kê tổng hợp, tính toán tại thời điểm tháng 5/2021).
        Số liệu thống kê ước tính, sơ bộ, chính thức có độ chênh lệch nhất định. Tổng cục Thống kê/Cục Thống kê thành phố Hà Nội công bố số liệu theo thứ tự 3 mức độ: Số liệu thống kê ước tính; số liệu thống kê sơ bộ; số liệu thống kê chính thức.



Một số nội dung chủ yếu của
 Nghị định 62/2024/NĐ-CP ngày 07/6/2024 của Chính phủ
 

        Từ ngày 01/8/2024 Tổng cục Thống kê sẽ thay đổi thời gian phổ biến Báo cáo kinh tế - xã hội tháng, quý, năm từ "ngày 29 của tháng báo cáo (riêng tháng Hai là ngày cuối tháng)" sang "ngày 06 của tháng kế tiếp sau kỳ báo cáo".






  • Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2024

     TRỊ GIÁ HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, HÀNG HÓA NHẬP KHẨU


     Ý nghĩa

    Trị giá hàng hóa xuất khẩu phản ánh lượng ngoại tệ mà đất nước thu được từ hàng hóa xuất khẩu do nền kinh tế tạo ra trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá độ mở cửa của nền kinh tế với thị trường thế giới, sức cạnh tranh của nền sản xuất trong nước so với các nước khác, khả năng tiếp cận, thâm nhập thị trường hàng hóa thế giới, đồng thời tạo điều kiện nhập khẩu máy móc, thiết bị đổi mới kỹ thuật công nghệ và nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa cần thiết cho sản xuất trong nước. Trong thống kê, giá trị hàng hóa xuất khẩu là chỉ tiêu quan trọng để tính toán các chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia và cán cân thanh toán quốc tế.


            Trị giá hàng hóa nhập khẩu phản ánh lượng ngoại tệ mà đất nước chi ra để mua hàng hóa từ nước ngoài trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá độ mở cửa của nền kinh tế với thị trường thế giới, mức độ phụ thuộc của nền sản xuất, tiêu dùng trong nước vào thị trường nước ngoài.
    Khái niệm, phương pháp tính
             1. Khái niệm
           a) Hàng hóa xuất khẩu gồm toàn bộ hàng hóa có xuất xứ trong nước và hàng hóa nước ngoài tái xuất khẩu, được đưa ra nước ngoài, làm giảm nguồn của cải, vật chất của đất nước. Trị giá xuất khẩu hàng hóa được tính theo điều kiện giao hàng FOB hoặc tương đương, là giá của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất (không gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải quốc tế), được tính cho một thời kỳ nhất định và tính theo một loại tiền thống nhất là Đô la Mỹ
            b) Hàng hóa nhập khẩu gồm toàn bộ hàng hóa đưa từ nước ngoài vào Việt Nam, làm tăng nguồn của cải, vật chất của đất nước. Trị giá nhập khẩu được tính theo điều kiện giao hàng CIF hoặc tương đương, là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, được tính cho một thời kỳ nhất định, tính theo một loại tiền thống nhất là Đô la Mỹ.
    Hàng hoá nhập khẩu gồm toàn bộ hàng hoá có xuất xứ nước ngoài và hàng Việt Nam tái nhập khẩu, được đưa từ nước ngoài vào Việt Nam, trong đó:
            - Hàng hoá có xuất xứ nước ngoài là hàng hóa được khai thác, sản xuất, chế biến ở nước ngoài theo các quy định về xuất xứ hàng hóa của Việt Nam;
            - Hàng hóa tái nhập khẩu là hàng hóa của Việt Nam đã xuất khẩu và được thống kê vào hàng xuất khẩu trước đó, sau đó lại nhập khẩu nguyên trạng hoặc chỉ chế biến giản đơn, bảo quản, đóng gói lại, không làm thay đổi tính chất cơ bản của hàng hóa.
            2.Phương pháp tính
            Thời điểm thống kê: Là thời điểm cơ quan Hải quan chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan.
    Những thay đổi trên tờ khai hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan sẽ được cập nhật vào hệ thống thông tin hải quan và được điều chỉnh trong các báo cáo thống kê.
             Trị giá thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: Là trị giá do cơ quan hải quan xây dựng phục vụ cho mục đích thống kê trên cơ sở trị giá khai báo.
            Loại tiền và tỷ giá: Trị giá thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tính bằng Đô la Mỹ (USD). Cơ quan hải quan căn cứ vào quy định hiện hành về tỷ giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để quy đổi các ngoại tệ sử dụng trong thống kê.
            Đơn vị tính lượng: Sử dụng đơn vị tính quy định trong Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam.
             Đối với đơn vị tính lượng quy đổi sử dụng trong các mẫu biểu thống kê: các đơn vị tính lượng khác nhau được quy đổi về đơn vị tính thống nhất trong mẫu biểu căn cứ vào các dữ liệu từ hồ sơ hải quan.
            Nước đối tác thương mại:
            Xuất khẩu: Thống kê theo “nước, vùng lãnh thổ cuối cùng hàng đến”: Là nước hoặc vùng lãnh thổ mà tại thời điểm xuất khẩu, người khai hải quan biết được hàng hoá của Việt Nam sẽ được chuyển đến để bốc dỡ, không tính nước mà hàng hoá trung chuyển, quá cảnh.
            Nhập khẩu: Thống kê theo “nước, vùng lãnh thổ xuất xứ” là nước hoặc vùng lãnh thổ mà tại đó hàng hóa được nuôi trồng, khai thác, sản xuất hoặc chế biến, theo các quy định về xuất xứ hàng hóa của Việt Nam.
            Ví dụ: Hiện nay, Hà Nội có quan hệ với hơn 100 thành phố, thủ đô các nước. Trong số đó, Hà Nội đã ký thỏa thuận hợp tác với 61 thủ đô, thành phố các nước; có quan hệ kinh tế thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng bình quân năm (giai đoạn 2011-2020) là 6,5%. Năm 2022, giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt khoảng 17,1 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm 2021.
            Giá trị hàng hóa nhập khẩu tăng bình quân năm trong giai đoạn 2011-2020 là 3,1%. Năm 2022, giá trị hàng hóa nhập khấu ước đạt khoảng 41,1 tỷ USD, tăng 17,3% so với năm 2021.
            Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia (Bộ Tài chính).