"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2024

PHÂN BIỆT GIỮA GRDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI VÀ
THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI

1. GRDP bình quân đầu người

GRDP bình quân đầu người được tính bằng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) trong năm chia cho Dân số trung bình trong cùng năm.
GRDP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trên địa bàn tỉnh, thành phố. Nội dung tổng quát của GRDP được xét dưới các góc độ khác nhau:


    - Xét về góc độ sản xuất: GRDP bằng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian.
    - Xét về góc độ sử dụng (chi tiêu) GRDP bao gồm: Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Chính quyền địa phương, tích luỹ tài sản (tích lũy tài sản cố định, tích lũy tài sản lưu động và tích lũy tài sản quý hiếm) và chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
    - Xét về góc độ thu nhập, GRDP gồm: Thu nhập của người lao động (Tiền công, tiền lương…), thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất và giá trị thặng dư sản xuất trong kỳ.
    2.Thu nhập bình quân đầu người
    Thu nhập bình quân đầu người 1 năm tính bằng Tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư chia cho dân số trong cùng năm.
    Thu nhập của hộ dân cư là toàn bộ số tiền và giá trị của hiện vật thu được sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ dân cư và các thành viên của hộ dân cư nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Thu nhập của hộ bao gồm 4 yếu tố cấu thành:
    (1) Thu từ tiền công, tiền lương;
    (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất);
    (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp và thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất);
    (4) Thu khác được tính vào thu nhập như thu do biếu, mừng, lãi tiết kiệm… (Các khoản thu không được tính vào thu nhập gồm rút tiền gửi tiết kiệm, thu nợ, thu bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh…).
    Tổng thu nhập hộ dân cư là tổng thu nhập của các hộ dân cư trên địa bàn.
    Như vậy, nội hàm của 2 chỉ tiêu trên là khác nhau: GRDP bình quân đầu người và Thu nhập bình quân đầu người có yếu tố trùng nhau là Thu của người lao động (Tiền lương, tiền công…); tuy nhiên Thu nhập bình quân đầu người không bao gồm thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất và giá trị thặng dư sản xuất trong kỳ, nhưng lại bao gồm cả phần thu nhập từ sở hữu và chuyển nhượng.
    Cụ thể năm 2022, GRDP bình quân đầu người của thành phố Hà Nội ước đạt 141,9 triệu đồng (cả nước là 95,6 triệu đồng), trong khi Thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội ước đạt 77,1 triệu đồng (cả nước là 55,2 triệu đồng).
    Do đó khi sử dụng hai chỉ tiêu này cần lưu ý sự khác biệt đó để lựa chọn đúng chỉ tiêu có ý nghĩa, nội dung, bản chất kinh tế phù hợp với từng mục đích và yêu cầu nghiên cứu, quản lý.

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2024

 CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI)

     CPI NĂM 2023 - LONG AN


Ý nghĩa: CPI được sử dụng chủ yếu cho mục đích đánh giá công tác kiểm soát lạm phát; điều hành, quản lý, nghiên cứu các chính sách tiền lương, lãi suất ngân hàng, quản lý tài chính, tiền tệ, tính toán sức mua và xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh; loại trừ yếu tố biến động (tăng/giảm) giá tiêu dùng trong việc tính toán một số chỉ tiêu thống kê tổng hợp theo giá so sánh. Ngoài ra chỉ số giá tiêu dùng còn đáp ứng nhu cầu nghiên cứu phân tích kinh tế của các doanh nghiệp, của người dân và các đối tượng dùng tin khác. 


        1.Khái niệm, phương pháp tính
        Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu tương đối (tính bằng %) phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá chung theo thời gian của các loại hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng hàng ngày của người dân.
        Danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện phục vụ tính CPI gồm các mặt hàng và dịch vụ chủ yếu, đại diện cho tiêu dùng của dân cư trong một giai đoạn nhất định.
        Quyền số tính CPI là tỷ trọng chi tiêu cho các nhóm hàng hoá và dịch vụ trong tổng chi tiêu của dân cư của năm được chọn làm gốc so sánh. Quyền số tính CPI được tổng hợp từ kết quả điều tra khảo sát mức sống dân cư và dùng cố định khoảng 5 năm.
        Công thức tính:
        CPI được tính theo công thức Laspeyres bình quân nhân gia quyền.
        Phương pháp tính:
        CPI được tính từ kết quả điều tra giá tiêu dùng của từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. CPI được tính bằng phương pháp bình quân nhân gia quyền giữa mức biến động giá của các nhóm mặt hàng với quyền số tương ứng.
        CPI của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được tính bằng phương pháp bình quân nhân gia quyền giữa CPI của mỗi nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng được chọn điều tra với quyền số tương ứng.
        Nguồn số liệu: Điều tra giá tiêu dùng; Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam.
        2. Lạm phát, tỷ lệ lạm phát
        (1) Lạm phát là mức tăng giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ.
        (2) Tỷ lệ lạm phát là thước đo tỷ lệ giảm sức mua của đồng tiền. Thông thường, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ tăng CPI của kỳ này so với kỳ trước.
        Nguồn số liệu: Điều tra giá tiêu dùng (CPI), Niên giám Thống kê; Chế độ báo cáo thống kê Bộ, ngành (Ngân hàng Nhà nước).
        3. Chỉ số lạm phát cơ bản
Ý nghĩa: Chỉ báo quan trọng về xu hướng dài hạn của lạm phát trong tương lai, đồng thời là thông tin đầu vào cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ.
Khái niệm, phương pháp tính
        Chỉ số lạm phát cơ bản là chỉ tiêu tương đối (tính bằng %) phản ánh sự thay đổi mức giá chung mang tính chất dài hạn, sau khi đã loại trừ những thay đổi mang tính chất ngẫu nhiên, tạm thời của chỉ số giá tiêu dùng. Lạm phát cơ bản được tính bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) loại trừ các nhóm hàng lương thực - thực phẩm; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục.
        Phương pháp chung của việc tính toán chỉ số lạm phát cơ bản là nhằm loại bỏ những biến động tạm thời hay còn gọi là yếu tố ngẫu nhiên của giá một số mặt hàng trong tỷ lệ lạm phát chung.
        Phương pháp phổ biến được dùng để tính chỉ số lạm phát cơ bản là phương pháp loại trừ trực tiếp vì phương pháp này đơn giản, dễ áp dụng và dễ hiểu đối với người sử dụng.
        Nguồn số liệu: Điều tra giá tiêu dùng (CPI).

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2024

 TỔNG MỨC BÁN LẺ HÀNG HÓA VÀ DOANH THU DỊCH VỤ TIÊU DÙNG

TỔNG MỨC BÁN LẺ HH VÀ DT DV TD
NĂM 2023 - TỈNH LONG AN




 Khái niệm: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là toàn bộ doanh thu hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng đã bán ra thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh, bao gồm: Doanh thu bán lẻ hàng hóa; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống; doanh thu du lịch lữ hành; doanh thu dịch vụ khác.

        1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa
      Ý nghĩa: Chỉ tiêu phản ánh mức tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thông qua thị trường, phản ánh sức mua của dân cư.
Khái niệm, phương pháp tính
        Bán lẻ hàng hóa là bán những hàng hoá loại mới, hàng đã qua sử dụng, chủ yếu cho tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình, tại các cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, hợp tác xã mua bán, quầy hàng bán tại chợ hoặc bán lưu động, ...
        Doanh thu bán lẻ hàng hóa gồm toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ bán lẻ hàng hoá (kể cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán, nếu có) của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản.
        Nguồn số liệu: Tổng điều tra kinh tế; Điều tra doanh nghiệp; Điều tra cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể; Điều tra hoạt động thương mại và dịch vụ; Dữ liệu hành chính.
        2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống
        Khái niệm, phương pháp tính
        a) Doanh thu dịch vụ lưu trú
        - Doanh thu thuần dịch vụ lưu trú là toàn bộ số tiền đã và sẽ thu được do cung cấp dịch vụ lưu trú ngắn ngày cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định (tháng/quý/năm). Cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú gồm: Cơ sở kinh doanh biệt thự hoặc căn hộ kinh doanh, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ và các cơ sở lưu trú khác (ký túc xá học sinh, sinh viên; chỗ nghỉ trọ trên xe lưu động,…).
        - Dịch vụ lưu trú gồm các hoạt động kinh doanh của các cơ sở chỉ cung cấp dịch vụ lưu trú ngắn ngày và các cơ sở cung cấp đồng thời cả dịch vụ lưu trú ngắn ngày và dịch vụ ăn uống/phương tiện giải trí cho khách du lịch, khách vãng lai. Các cơ sở cung cấp những hoạt động này gồm: Khách sạn, biệt thự hoặc căn hộ, nhà khách, nhà nghỉ kinh doanh lưu trú ngắn ngày; ký túc xá học sinh, sinh viên; chỗ nghỉ trọ trên xe lưu động; lều quán, trại dùng để nghỉ tạm. Dịch vụ lưu trú cũng gồm cả hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lưu trú dài hạn cho sinh viên (như “làng sinh viên”), nhà điều dưỡng.
        Hoạt động cho thuê nhà ở dài ngày và hoạt động cho thuê văn phòng không được coi là hoạt động thuộc dịch vụ lưu trú, các hoạt động đó thuộc phạm vi của hoạt động kinh doanh bất động sản.
        b) Doanh thu dịch vụ ăn uống
        - Doanh thu dịch vụ ăn uống là tổng số tiền đã và sẽ thu được do cung cấp dịch vụ ăn uống cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, gồm bán hàng ăn uống do cơ sở tự chế biến và hàng ăn uống mua từ bên ngoài để bán mà không cần qua chế biến, không cần dịch vụ phục vụ thêm của cơ sở (hàng chuyển bán).
        + Doanh thu hàng chuyển bán là số tiền đã và sẽ thu được do bán các loại hàng hóa không do đơn vị chế biến (tức là hàng hóa mua về để bán, ví dụ như: Rượu bia, thuốc lá nhà hàng mua về để phục vụ khách hàng uống, hút tại nhà hàng).
        - Dịch vụ ăn uống gồm các hoạt động kinh doanh của các nhà hàng, bar và căng tin cung cấp các dịch vụ ăn uống cho khách hàng tại chỗ (khách hàng được phục vụ hoặc tự phục vụ) hoặc mang về, các dịch vụ phục vụ ăn uống lưu động; cung cấp dịch vụ ăn uống theo hợp đồng không thường xuyên và dịch vụ ăn uống khác.
        Dịch vụ ăn uống không bao gồm dịch vụ ăn uống gắn liền với các cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú không có hạch toán riêng vì đã được tính vào dịch vụ lưu trú.
        3. Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành
Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành là toàn bộ số tiền các cơ sở kinh doanh du lịch lữ hành thu từ kết quả thực hiện hoạt động tổ chức các chương trình du lịch trọn gói hoặc không trọn gói phục vụ khách nội địa và khách quốc tế; cung cấp thong tin du lịch; tư vấn, lập kế hoạch du lịch và hướng dẫn khách du lịch, kể cả đại lý du lịch.
        4. Doanh thu dịch vụ khác
        Doanh thu dịch vụ khác gồm:
        a) Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản
        Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản là tổng số tiền thu được do việc giao dịch thành công các bất động sản (gồm cả mua, bán); số tiền thu được từ hoạt động cho thuê bất động sản dài hạn và ngắn hạn; dịch vụ và môi giới trong hoạt động kinh doanh bất động sản.
        Doanh thu kinh doanh bất động sản là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh bất động sản.
Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi.
        *) Các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh gồm:
        - Nhà, công trình xây dựng có sẵn của các tổ chức, cá nhân;
        - Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của các tổ chức, cá nhân;
       - Nhà, công trình xây dựng là tài sản công được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa vào kinh doanh;
        - Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất.
        b) Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ (trừ dịch vụ du lịch lữ hành) là số tiền đã và sẽ thu được do cung cấp các dịch vụ gồm: Cho thuê máy móc, thiết bị, tài sản (không kèm người điều khiển), cho thuê đồ dùng cá nhân và gia đình; cho thuê tài sản phi tài chính; dịch vụ lao động và việc làm; dịch vụ bảo vệ cá nhân, hệ thống bảo đảm an toàn, dịch vụ thám tử tư nhân; dịch vụ vệ sinh nhà cửa, công trình và cảnh quan; dịch vụ hành chính, hỗ trợ văn phòng và các hoạt động hỗ trợ kinh doanh khác,... (trừ dịch vụ kinh doanh tour du lịch, đại lý du lịch, các dịch vụ hỗ trợ du lịch khác).
        c) Doanh thu thuần hoạt động giáo dục và đào tạo là toàn bộ số tiền đã thu và sẽ phải thu từ cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo cho khách hàng kể cả dịch vụ tư vấn du học, không gồm doanh thu bán sách, báo, tài liệu nghiên cứu và các dụng cụ học tập cho khách hàng.
        d) Doanh thu thuần hoạt động y tế là toàn bộ số tiền đã thu và phải thu từ cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho khách hàng; không gồm doanh thu bán thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế gia dụng như máy đo huyết áp, máy đo đường huyết, máy massage,...
        e) Doanh thu hoạt động xổ số, thể thao, vui chơi và giải trí là toàn bộ số tiền đã thu và phải thu từ việc cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu thể thao, vui chơi và giải trí của người dân. Doanh thu hoạt động này không gồm các khoản thu từ các hoạt động của các bảo tàng, bảo tồn các khu di tích lịch sử, các vườn bách thú, bách thảo và hoạt động cá cược, đánh bạc; các hoạt động nghệ thuật kịch câm, âm nhạc và các hoạt động nghệ thuật, giải trí đã được phân vào nhóm hoạt động của ngành sáng tác, nghệ thuật và giải trí.
        Ngoài một số dịch vụ trên, doanh thu hoạt động dịch vụ khác còn gồm số tiền đã thu và sẽ thu từ cung cấp các dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình (sửa chữa, bảo dưỡng máy vi tính, thiết bị ngoại vi và thiết bị liên lạc; sửa chữa thiết bị nghe nhìn điện tử gia dụng; sửa chữa giày dép, giường, tủ, bàn ghế,...); dịch vụ giặt là, làm sạch các sản phẩm dệt và lông thú; dịch vụ phục vụ tang lễ phục vụ cá nhân và cộng đồng.
    Nguồn số liệu: Tổng điều tra kinh tế; Điều tra doanh nghiệp; Điều tra cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể; Điều tra hoạt động thương mại và dịch vụ; Dữ liệu hành chính./.

 VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI


VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI NĂM 2023
TỈNH LONG AN


Ý nghĩa: Là một trong các yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tăng trưởng kinh tế, ổn định và phát triển xã hội, bảo vệ, cải thiện môi trường. Chỉ tiêu này xác định quy mô, cơ cấu của vổn đầu tư theo nguồn vốn, theo ngành kinh tế, theo khoản mục đầu tư, theo vùng lãnh thổ để lập quy hoạch, kế hoạch thực hiện, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư; Đề ra các chính sách quản lý vĩ mô phù hợp như huy động nguồn vốn, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo vùng, theo khu vực đầu tư, theo ngành hoạt động... trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. 

        1. Khái niệm, phương pháp tính
        Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội là toàn bộ tiền vốn bỏ ra (chi tiêu) để làm tăng hoặc duy trì năng lực sản xuất và nguồn lực để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Nội hàm của vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội gồm các nội dung sau:
        - Vốn đầu tư tạo ra tài sản cố định là chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định, gồm vốn đầu tư xây dựng mới nhà cửa, vật kiến trúc, mua sắm tài sản cố định không qua xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định (tức là những chi phí bằng tiền để tạo mới, mở rộng, xây dựng lại, khôi phục hoặc nâng cấp năng lực sản xuất của tài sản cố định của nền kinh tế). Toàn bộ chi phí cho việc thăm dò, khảo sát thiết kế và quy hoạch xây dựng chuẩn bị cho việc đầu tư cũng như chi phí lắp đặt máy móc thiết bị cũng được tính vào khoản mục này.
        - Vốn đầu tư làm tăng tài sản lưu động là chi phí duy trì và phát triển sản xuất gồm vốn đầu tư mua nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản. Đây là khoản chênh lệch tồn kho của vốn lưu động được bổ sung trong kỳ nghiên cứu.
        - Vốn đầu tư thực hiện khác gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm tăng năng lực phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội ngoài yếu tố là tăng tài sản cố định, tài sản lưu động còn yếu tố tăng nguồn lực khác như: Nâng cao dân trí, tăng cường phúc lợi xã hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các chương trình phát triển khác như Chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng, kế hoạch hóa gia đình; Chương trình bảo vệ động vật quý hiếm; Chương trình phổ cập giáo dục, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; Chương trình xóa đói giảm nghèo,...
        Trên phạm vi quốc gia, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội không gồm những khoản đầu tư có tính chất chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu giữa các cá nhân, hộ dân cư, các doanh nghiệp, tổ chức,… nhưng không làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động của toàn bộ nền kinh tế trong phạm vi cả nước, như: Chuyển nhượng đất đai, nhà ở, cửa hàng, thiết bị máy móc và các tài sản cố định khác đã qua sử dụng.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội được phân tổ theo nguồn vốn đầu tư; khoản mục đầu tư; loại hình kinh tế; ngành kinh tế; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được đầu tư và vùng kinh tế - xã hội.
        2. Chia theo nguồn vốn đầu tư:
       - Vốn ngân sách nhà nước là khoản chi của ngân sách nhà nước để chuẩn bị đầu tư, thực hiện và kết thúc đầu tư, hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để bố trí cho các dự án hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp hoặc không xã hội hóa được thuộc các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật.
        Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước gồm vốn đầu tư từ ngân sách trung ương và vốn đầu tư từ ngân sách địa phương.
Ngoài Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn bao gồm vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật (Luật Đầu tư công).
        - Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ là nguồn vốn đầu tư được hình thành từ hoạt động hợp tác phát triển giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với các nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia.
Vốn ODA gồm ODA viện trợ không hoàn lại và ODA vốn vay.
Vốn vay ưu đãi là hình thức cung cấp vốn vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của ODA vốn vay.
Nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi do Chính phủ Việt Nam vay để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của nhà nước do ngân sách nhà nước cấp phát được tính là nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước phần vốn nước ngoài. Còn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ do Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại thì không được tổng hợp vào nguồn vốn ngân sách nhà nước.
        - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là vốn đầu tư cho những dự án đầu tư mà chủ đầu tư có thể vay vốn hưởng lãi suất ưu đãi để đầu tư trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn của nhà nước, các vùng khó khăn nhà nước khuyến khích đầu tư bảo đảm có hiệu quả kinh tế - xã hội, có khả năng hoàn trả vốn vay.
Các dự án đầu tư được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là các dự án thuộc danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư ban hành kèm theo Nghị định hiện hành quy định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước.
        - Vốn vay gồm vay ngân hàng thương mại và vốn vay từ các nguồn khác. Đây là khoản tiền mà chủ đầu tư đi vay từ các tổ chức tín dụng trong nước (không kể tín dụng đầu tư của Nhà nước đã nêu ở trên), vay các ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức quốc tế và vay các tổ chức, cá nhân khác để đầu tư sản xuất kinh doanh.
        - Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ đầu tư được hình thành từ lợi nhuận, trích ra để đầu tư; từ tiền thanh lý tài sản, từ khấu hao tài sản cố định, từ các quỹ, huy động cổ phần, góp vốn liên doanh của các bên đối tác liên doanh,…
        - Vốn khác là nguồn vốn đóng góp tự nguyện, cho, biếu, tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, là nguồn vốn huy động ngoài các nguồn vốn trên.
        3. Chia theo khoản mục đầu tư:
        - Vốn đầu tư được chia thành: Đầu tư xây dựng cơ bản; mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản; sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định; bổ sung vốn lưu động bằng nguồn vốn tự có; đầu tư khác. Trong đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất.
        Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là tổng chi phí bằng tiền mà chủ đầu tư thuộc tất cả các loại hình kinh tế dùng cho việc xây mới, mở rộng, xây dựng lại các dự án/công trình như: Đường xá, cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện, nhà xưởng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh,....
        Tùy theo mục đích nghiên cứu, vốn đầu tư xây dựng cơ bản có thể được phân tổ theo các tiêu thức khác nhau. Cùng với những phân tổ theo ngành kinh tế, theo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (theo địa bàn), thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn được phân theo yếu tố cấu thành với 3 nhóm chính:
         - Vốn đầu tư xây dựng và lắp đặt thiết bị (vốn xây lắp) là phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản chi cho việc xây dựng và lắp đặt máy móc, thiết bị của công trình gồm chi phí xây dựng công trình, chi phí lắp đặt máy móc, thiết bị vào vị trí công trình, chi phí hoàn thiện công trình.
        - Vốn đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị (vốn thiết bị) là phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản chi cho việc mua sắm máy móc, thiết bị và các dụng cụ, khí cụ, gia súc đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định theo quy định hiện hành, gồm: Giá trị thiết bị, máy móc, dụng cụ, khí cụ, gia súc được coi là tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bảo quản, gia công, kiểm tra máy móc, thiết bị và các dụng cụ, khí cụ trước khi đưa vào lắp đặt. Vốn thiết bị gồm cả giá trị mua sắm thiết bị máy móc cần lắp đặt và thiết bị máy móc không cần lắp đặt.
        - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản khác là phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản không thuộc vốn xây lắp và vốn thiết bị, gồm: Chi phí tư vấn, đầu tư khảo sát, thiết kế, chi quản lý, chi giải phóng mặt bằng, chi đào tạo lao động tiếp nhận và vận hành công trình, các khoản chi khác.
        4. Chia theo loại hình kinh tế, vốn đầu tư chia thành 3 loại hình kinh tế:
        - Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước;
        - Vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước;
        - Vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài./.

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2024

CHỈ SỐ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (IIP)

         IIP 2023 - LONG AN

 Ý nghĩa: IIP là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khái quát tình hình phát triển ngành công nghiệp nói chung và tốc độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng; đáp ứng nhu cầu thông tin của cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư và các đối tượng dùng tin khác.

           a) Khái niệm, phương pháp tính
        Chỉ số sản xuất công nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất công nghiệp tạo ra trong kỳ hiện tại so với khối lượng sản xuất công nghiệp kỳ gốc.
        Chỉ số sản xuất công nghiệp có thể tính với nhiều kỳ gốc khác nhau tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu. Ở nước ta hiện nay thường chọn kỳ gốc so sánh là cùng kỳ năm trước và kỳ trước liền kề; ít sử dụng gốc so sánh là một tháng cố định của một năm nào đó. Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới sử dụng gốc so sánh là tháng bình quân của một năm được chọn làm gốc để tính “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”.
        Việc tính chỉ số sản xuất công nghiệp được bắt đầu từ tính chỉ số sản xuất của sản phẩm hay còn gọi là chỉ số cá thể. Từ chỉ số cá thể có thể tính cho các chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp cấp 4, cấp 2, cấp 1 và toàn ngành công nghiệp; cũng có thể tính cho một địa phương và cho toàn quốc.
        b) Quy trình tính toán
        - Tính chỉ số sản xuất của một sản phẩm
        Tính chỉ số sản xuất cho từng sản phẩm riêng biệt tuy đơn giản nhưng lại rất quan trọng, bởi các chỉ số của từng sản phẩm sẽ là cơ sở để tính chỉ số chung cho ngành, cho địa phương và cho toàn quốc. Nếu các chỉ số của từng sản phẩm thiếu chính xác sẽ làm cho chỉ số chung không chính xác.
        - Tính chỉ số sản xuất của một ngành công nghiệp cấp 4
        Chỉ số sản xuất của toàn ngành công nghiệp là chỉ số bình quân gia quyền các chỉ số sản xuất của các ngành công nghiệp cấp 1 (gồm 4 ngành công nghiệp cấp 1 là: Công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải).
Nguồn số liệu: Điều tra ngành công nghiệp.

Tất cả cảm xú

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

 HIỂU ĐÚNG VỀ DÂN SỐ TRONG THỐNG KÊ

BỨC TRANH DÂN SỐ THẾ GIỚI NĂM 2023




Ý nghĩa: Là chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản, quan trọng đối với xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quản lý và điều hành nền kinh tế. Xuất phát từ những đặc trưng và các yếu tố dân số có thể nghiên cứu và dự báo các vấn đề kinh tế - xã hội khác, số liệu dân số còn là chỉ tiêu cơ bản dùng để tính các chỉ tiêu bình quân đầu người và các chỉ tiêu nhân khẩu học khác. 

      
        Khái niệm, phương pháp tính
        Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính.
        Trong thống kê, dân số được thu thập theo khái niệm nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ, là những người thực tế thường xuyên ăn, ở tại hộ tính đến thời điểm điều tra đã được 6 tháng trở lên, trẻ em mới sinh trước thời điểm điều tra và những người mới chuyển đến sẽ ở ổn định tại hộ, không phân biệt có hay không có hộ khẩu thường trú tại xã, phường, thị trấn đang ở và những người tạm vắng. Nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ gồm:
        - Người thực tế thường xuyên ăn, ở tại hộ tính đến thời điểm thống kê đã được 6 tháng trở lên.
        - Người mới chuyển đến chưa được 6 tháng nhưng xác định sẽ ăn, ở ổn định tại hộ và những trẻ em mới sinh trước thời điểm thống kê; không phân biệt họ đã có hay không có giấy tờ pháp lý chứng nhận sự di chuyển đó.
        - Người tạm vắng gồm người rời hộ đi làm ăn ở nơi khác chưa được 6 tháng tính đến thời điểm thống kê; người đang làm việc hoặc học tập trong nước trong thời hạn 6 tháng; người đang đi thăm, đi chơi nhà người thân, đi nghỉ hè, nghỉ lễ, đi du lịch, sẽ quay trở lại hộ; người đi công tác, đi đánh bắt hải sản, đi tàu viễn dương, đi buôn chuyến; người được cơ quan có thẩm quyền cho phép đi làm việc, công tác, học tập, chữa bệnh, du lịch ở nước ngoài, tính đến thời điểm thống kê họ vẫn còn ở nước ngoài trong thời hạn được cấp phép; người đang chữa bệnh nội trú tại các cơ sở y tế; người đang bị ngành quân đội, công an tạm giữ.
        Chỉ tiêu dân số được chi tiết thành một số chỉ tiêu cơ bản như sau:
        - Dân số thời điểm là dân số tại một thời điểm cụ thể.
        - Dân số trung bình là dân số tính bình quân cho cả một thời kỳ.
        Công thức tính:
        + Nếu chỉ có số liệu tại hai thời điểm (đầu và cuối của thời kỳ ngắn, thường là một năm), sử dụng công thức:
        Ptb = (P0 + P1)/2
        Trong đó:
        Ptb: Dân số trung bình;
        P0: Dân số đầu kỳ;
        P1: Dân số cuối kỳ.
        + Nếu có số liệu tại nhiều thời điểm cách đều nhau, sử dụng công thức:
        Ptb = P0 + P1 + .... + Pn-1 + Pn
        Trong đó:
        Ptb : Dân số trung bình;
        P0,1,...,n : Dân số ở các thời điểm 0, 1,..., n;
        n : Số thời điểm cách đều nhau.
        + Nếu có số liệu tại nhiều thời điểm không cách đều nhau, sử dụng công thức:
        Ptb = Ptb1t1 + Ptb2t2 + .... + Ptbntn

        Trong đó:
        Ptb : Dân số trung bình;
        Ptb1 : Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ nhất;
        Ptb2 : Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ 2;
        Ptbn : Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ n;

        Nguồn số liệu: Tổng điều tra dân số và nhà ở; Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ; Điều tra biến động dân số  và kế hoạch hóa gia đình; Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
        

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2024

 

Long An: Chanh không hạt chính thức có Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận 'Bến Lức - Long An' 

Ngày 04/7, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Long An tổ chức Hội thảo khoa học công bố Quyết định, trao Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hiệu chứng nhận “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt của tỉnh Long An.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Hồ Thị Ngọc Lan nhận Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý từ Cục Sở hữu trí tuệ

Tham dự hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) - Trần Lê Hồng; Giám đốc Sở KH&CN - Nguyễn Minh Hải; Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Hồ Thị Ngọc Lan; Phó Giám đốc Sở Công Thương - Trần Thanh Toản; đại diện Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ và Sở hữu trí tuệ CIPTEK, đại diện một số doanh nghiệp, hợp tác xã có tham gia sản xuất, xuất khẩu chanh không hạt.

Chanh không hạt là một trong những sản phẩm chủ lực của tỉnh Long An

Chanh không hạt là một trong những sản phẩm chủ lực của tỉnh, mang lại giá trị kinh tế cao cho nông dân huyện Bến Lức và các vùng lân cận. Hiện nay, diện tích trồng chanh không hạt trên địa bàn tỉnh Long An đạt trên 10.000ha, trong đó huyện Bến Lức chiếm trên 60%.

Giám đốc Sở KH&CN - Nguyễn Minh Hải khẳng định, việc triển khai xây dựng Chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt của tỉnh Long An là chủ trương đúng đắn, kịp thời của tỉnh Long An nhằm bảo vệ uy tín, chất lượng cho quả chanh không hạt của tỉnh.

Sau hơn 2 năm triển khai, thực hiện đề tài “Tạo lập, quản lý và quảng bá Chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt tỉnh Long An” do Cử nhân Đào Phương Hạnh là chủ nhiệm nhiệm vụ, Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ và Sở hữu trí tuệ CIPTEK là đơn vị chủ trì thực hiện, đến nay quả chanh không hạt đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hiệu chứng nhận “Bến Lức - Long An”.

Logo nhận diện chỉ dẫn địa lý chanh không hạt Bến Lức - Long An

Chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt chỉ là bước khởi đầu. Thời gian tới, Sở KH&CN sẽ phối hợp các cơ quan, tổ chức quản lý Chỉ dẫn địa lý là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, UBND huyện Bến Lức, Sở Công Thương tiếp tục xây dựng các chính sách, hướng dẫn chuyên môn nhằm tạo điều kiện để các tổ chức, người sản xuất, kinh doanh có thể sử dụng Chỉ dẫn địa lý một cách hiệu quả.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ - Nguyễn Minh Hải và Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Hồ Thị Ngọc Lan trao quyết định cho 3 đơn vị đạt điều kiện sử dụng chỉ dẫn địa lý

Theo Quyết định số 173/QĐ-SNN, ngày 15/3/2024 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt của tỉnh Long An, có 3 đơn vị đạt điều kiện sử dụng gồm Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Bến Lức (trụ sở tại xã Lương Hòa, khu vực địa lý sản xuất chanh gồm huyện Bến Lức, Thủ Thừa); Công ty TNHH MTV The Fruit Republic Cần Thơ (trụ sở tại TP.Cần Thơ, khu vực địa lý sản xuất chanh gồm huyện Bến Lức, Thạnh Hóa, Đức Huệ, Thủ Thừa); Công ty TNHH XNK Hoàng Kim Việt Nam - chi nhánh Long An (trụ sở tại xã Thạnh Lợi, khu vực địa lý sản xuất chanh gồm trên địa bàn huyện Bến Lức).

Chanh không hạt của Công ty TNHH MTV The Fruit Republic Cần Thơ sử dụng Chỉ dẫn địa lý chanh không hạt Bến Lức - Long An 

Tại Long An, tính đến tháng 6/2024 có 3 sản phẩm có Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý gồm sản phẩm thanh long Châu Thành - Long An, khoai mỡ Bến Kè Thạnh Hóa, chanh không hạt Bến Lức - Long An; 4 nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm gồm thanh long Châu Thành Long An, nếp Thủ Thừa Long An, khoai mỡ Bến Kè Thạnh Hóa và chanh không hạt Bến Lức - Long An./.

Mai Hương

Nguồn: https://baolongan.vn/