"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2024

 TỔNG MỨC BÁN LẺ HÀNG HÓA VÀ DOANH THU DỊCH VỤ TIÊU DÙNG

TỔNG MỨC BÁN LẺ HH VÀ DT DV TD
NĂM 2023 - TỈNH LONG AN




 Khái niệm: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là toàn bộ doanh thu hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng đã bán ra thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh, bao gồm: Doanh thu bán lẻ hàng hóa; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống; doanh thu du lịch lữ hành; doanh thu dịch vụ khác.

        1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa
      Ý nghĩa: Chỉ tiêu phản ánh mức tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thông qua thị trường, phản ánh sức mua của dân cư.
Khái niệm, phương pháp tính
        Bán lẻ hàng hóa là bán những hàng hoá loại mới, hàng đã qua sử dụng, chủ yếu cho tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình, tại các cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, hợp tác xã mua bán, quầy hàng bán tại chợ hoặc bán lưu động, ...
        Doanh thu bán lẻ hàng hóa gồm toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ bán lẻ hàng hoá (kể cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán, nếu có) của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản.
        Nguồn số liệu: Tổng điều tra kinh tế; Điều tra doanh nghiệp; Điều tra cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể; Điều tra hoạt động thương mại và dịch vụ; Dữ liệu hành chính.
        2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống
        Khái niệm, phương pháp tính
        a) Doanh thu dịch vụ lưu trú
        - Doanh thu thuần dịch vụ lưu trú là toàn bộ số tiền đã và sẽ thu được do cung cấp dịch vụ lưu trú ngắn ngày cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định (tháng/quý/năm). Cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú gồm: Cơ sở kinh doanh biệt thự hoặc căn hộ kinh doanh, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ và các cơ sở lưu trú khác (ký túc xá học sinh, sinh viên; chỗ nghỉ trọ trên xe lưu động,…).
        - Dịch vụ lưu trú gồm các hoạt động kinh doanh của các cơ sở chỉ cung cấp dịch vụ lưu trú ngắn ngày và các cơ sở cung cấp đồng thời cả dịch vụ lưu trú ngắn ngày và dịch vụ ăn uống/phương tiện giải trí cho khách du lịch, khách vãng lai. Các cơ sở cung cấp những hoạt động này gồm: Khách sạn, biệt thự hoặc căn hộ, nhà khách, nhà nghỉ kinh doanh lưu trú ngắn ngày; ký túc xá học sinh, sinh viên; chỗ nghỉ trọ trên xe lưu động; lều quán, trại dùng để nghỉ tạm. Dịch vụ lưu trú cũng gồm cả hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lưu trú dài hạn cho sinh viên (như “làng sinh viên”), nhà điều dưỡng.
        Hoạt động cho thuê nhà ở dài ngày và hoạt động cho thuê văn phòng không được coi là hoạt động thuộc dịch vụ lưu trú, các hoạt động đó thuộc phạm vi của hoạt động kinh doanh bất động sản.
        b) Doanh thu dịch vụ ăn uống
        - Doanh thu dịch vụ ăn uống là tổng số tiền đã và sẽ thu được do cung cấp dịch vụ ăn uống cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, gồm bán hàng ăn uống do cơ sở tự chế biến và hàng ăn uống mua từ bên ngoài để bán mà không cần qua chế biến, không cần dịch vụ phục vụ thêm của cơ sở (hàng chuyển bán).
        + Doanh thu hàng chuyển bán là số tiền đã và sẽ thu được do bán các loại hàng hóa không do đơn vị chế biến (tức là hàng hóa mua về để bán, ví dụ như: Rượu bia, thuốc lá nhà hàng mua về để phục vụ khách hàng uống, hút tại nhà hàng).
        - Dịch vụ ăn uống gồm các hoạt động kinh doanh của các nhà hàng, bar và căng tin cung cấp các dịch vụ ăn uống cho khách hàng tại chỗ (khách hàng được phục vụ hoặc tự phục vụ) hoặc mang về, các dịch vụ phục vụ ăn uống lưu động; cung cấp dịch vụ ăn uống theo hợp đồng không thường xuyên và dịch vụ ăn uống khác.
        Dịch vụ ăn uống không bao gồm dịch vụ ăn uống gắn liền với các cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú không có hạch toán riêng vì đã được tính vào dịch vụ lưu trú.
        3. Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành
Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành là toàn bộ số tiền các cơ sở kinh doanh du lịch lữ hành thu từ kết quả thực hiện hoạt động tổ chức các chương trình du lịch trọn gói hoặc không trọn gói phục vụ khách nội địa và khách quốc tế; cung cấp thong tin du lịch; tư vấn, lập kế hoạch du lịch và hướng dẫn khách du lịch, kể cả đại lý du lịch.
        4. Doanh thu dịch vụ khác
        Doanh thu dịch vụ khác gồm:
        a) Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản
        Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản là tổng số tiền thu được do việc giao dịch thành công các bất động sản (gồm cả mua, bán); số tiền thu được từ hoạt động cho thuê bất động sản dài hạn và ngắn hạn; dịch vụ và môi giới trong hoạt động kinh doanh bất động sản.
        Doanh thu kinh doanh bất động sản là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh bất động sản.
Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi.
        *) Các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh gồm:
        - Nhà, công trình xây dựng có sẵn của các tổ chức, cá nhân;
        - Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của các tổ chức, cá nhân;
       - Nhà, công trình xây dựng là tài sản công được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa vào kinh doanh;
        - Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất.
        b) Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ (trừ dịch vụ du lịch lữ hành) là số tiền đã và sẽ thu được do cung cấp các dịch vụ gồm: Cho thuê máy móc, thiết bị, tài sản (không kèm người điều khiển), cho thuê đồ dùng cá nhân và gia đình; cho thuê tài sản phi tài chính; dịch vụ lao động và việc làm; dịch vụ bảo vệ cá nhân, hệ thống bảo đảm an toàn, dịch vụ thám tử tư nhân; dịch vụ vệ sinh nhà cửa, công trình và cảnh quan; dịch vụ hành chính, hỗ trợ văn phòng và các hoạt động hỗ trợ kinh doanh khác,... (trừ dịch vụ kinh doanh tour du lịch, đại lý du lịch, các dịch vụ hỗ trợ du lịch khác).
        c) Doanh thu thuần hoạt động giáo dục và đào tạo là toàn bộ số tiền đã thu và sẽ phải thu từ cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo cho khách hàng kể cả dịch vụ tư vấn du học, không gồm doanh thu bán sách, báo, tài liệu nghiên cứu và các dụng cụ học tập cho khách hàng.
        d) Doanh thu thuần hoạt động y tế là toàn bộ số tiền đã thu và phải thu từ cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho khách hàng; không gồm doanh thu bán thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế gia dụng như máy đo huyết áp, máy đo đường huyết, máy massage,...
        e) Doanh thu hoạt động xổ số, thể thao, vui chơi và giải trí là toàn bộ số tiền đã thu và phải thu từ việc cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu thể thao, vui chơi và giải trí của người dân. Doanh thu hoạt động này không gồm các khoản thu từ các hoạt động của các bảo tàng, bảo tồn các khu di tích lịch sử, các vườn bách thú, bách thảo và hoạt động cá cược, đánh bạc; các hoạt động nghệ thuật kịch câm, âm nhạc và các hoạt động nghệ thuật, giải trí đã được phân vào nhóm hoạt động của ngành sáng tác, nghệ thuật và giải trí.
        Ngoài một số dịch vụ trên, doanh thu hoạt động dịch vụ khác còn gồm số tiền đã thu và sẽ thu từ cung cấp các dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình (sửa chữa, bảo dưỡng máy vi tính, thiết bị ngoại vi và thiết bị liên lạc; sửa chữa thiết bị nghe nhìn điện tử gia dụng; sửa chữa giày dép, giường, tủ, bàn ghế,...); dịch vụ giặt là, làm sạch các sản phẩm dệt và lông thú; dịch vụ phục vụ tang lễ phục vụ cá nhân và cộng đồng.
    Nguồn số liệu: Tổng điều tra kinh tế; Điều tra doanh nghiệp; Điều tra cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể; Điều tra hoạt động thương mại và dịch vụ; Dữ liệu hành chính./.

 VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI


VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI NĂM 2023
TỈNH LONG AN


Ý nghĩa: Là một trong các yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tăng trưởng kinh tế, ổn định và phát triển xã hội, bảo vệ, cải thiện môi trường. Chỉ tiêu này xác định quy mô, cơ cấu của vổn đầu tư theo nguồn vốn, theo ngành kinh tế, theo khoản mục đầu tư, theo vùng lãnh thổ để lập quy hoạch, kế hoạch thực hiện, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư; Đề ra các chính sách quản lý vĩ mô phù hợp như huy động nguồn vốn, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo vùng, theo khu vực đầu tư, theo ngành hoạt động... trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. 

        1. Khái niệm, phương pháp tính
        Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội là toàn bộ tiền vốn bỏ ra (chi tiêu) để làm tăng hoặc duy trì năng lực sản xuất và nguồn lực để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Nội hàm của vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội gồm các nội dung sau:
        - Vốn đầu tư tạo ra tài sản cố định là chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định, gồm vốn đầu tư xây dựng mới nhà cửa, vật kiến trúc, mua sắm tài sản cố định không qua xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định (tức là những chi phí bằng tiền để tạo mới, mở rộng, xây dựng lại, khôi phục hoặc nâng cấp năng lực sản xuất của tài sản cố định của nền kinh tế). Toàn bộ chi phí cho việc thăm dò, khảo sát thiết kế và quy hoạch xây dựng chuẩn bị cho việc đầu tư cũng như chi phí lắp đặt máy móc thiết bị cũng được tính vào khoản mục này.
        - Vốn đầu tư làm tăng tài sản lưu động là chi phí duy trì và phát triển sản xuất gồm vốn đầu tư mua nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản. Đây là khoản chênh lệch tồn kho của vốn lưu động được bổ sung trong kỳ nghiên cứu.
        - Vốn đầu tư thực hiện khác gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm tăng năng lực phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội ngoài yếu tố là tăng tài sản cố định, tài sản lưu động còn yếu tố tăng nguồn lực khác như: Nâng cao dân trí, tăng cường phúc lợi xã hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các chương trình phát triển khác như Chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng, kế hoạch hóa gia đình; Chương trình bảo vệ động vật quý hiếm; Chương trình phổ cập giáo dục, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; Chương trình xóa đói giảm nghèo,...
        Trên phạm vi quốc gia, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội không gồm những khoản đầu tư có tính chất chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu giữa các cá nhân, hộ dân cư, các doanh nghiệp, tổ chức,… nhưng không làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động của toàn bộ nền kinh tế trong phạm vi cả nước, như: Chuyển nhượng đất đai, nhà ở, cửa hàng, thiết bị máy móc và các tài sản cố định khác đã qua sử dụng.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội được phân tổ theo nguồn vốn đầu tư; khoản mục đầu tư; loại hình kinh tế; ngành kinh tế; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được đầu tư và vùng kinh tế - xã hội.
        2. Chia theo nguồn vốn đầu tư:
       - Vốn ngân sách nhà nước là khoản chi của ngân sách nhà nước để chuẩn bị đầu tư, thực hiện và kết thúc đầu tư, hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để bố trí cho các dự án hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp hoặc không xã hội hóa được thuộc các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật.
        Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước gồm vốn đầu tư từ ngân sách trung ương và vốn đầu tư từ ngân sách địa phương.
Ngoài Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn bao gồm vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật (Luật Đầu tư công).
        - Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ là nguồn vốn đầu tư được hình thành từ hoạt động hợp tác phát triển giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với các nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia.
Vốn ODA gồm ODA viện trợ không hoàn lại và ODA vốn vay.
Vốn vay ưu đãi là hình thức cung cấp vốn vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của ODA vốn vay.
Nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi do Chính phủ Việt Nam vay để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của nhà nước do ngân sách nhà nước cấp phát được tính là nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước phần vốn nước ngoài. Còn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ do Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại thì không được tổng hợp vào nguồn vốn ngân sách nhà nước.
        - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là vốn đầu tư cho những dự án đầu tư mà chủ đầu tư có thể vay vốn hưởng lãi suất ưu đãi để đầu tư trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn của nhà nước, các vùng khó khăn nhà nước khuyến khích đầu tư bảo đảm có hiệu quả kinh tế - xã hội, có khả năng hoàn trả vốn vay.
Các dự án đầu tư được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là các dự án thuộc danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư ban hành kèm theo Nghị định hiện hành quy định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước.
        - Vốn vay gồm vay ngân hàng thương mại và vốn vay từ các nguồn khác. Đây là khoản tiền mà chủ đầu tư đi vay từ các tổ chức tín dụng trong nước (không kể tín dụng đầu tư của Nhà nước đã nêu ở trên), vay các ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức quốc tế và vay các tổ chức, cá nhân khác để đầu tư sản xuất kinh doanh.
        - Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ đầu tư được hình thành từ lợi nhuận, trích ra để đầu tư; từ tiền thanh lý tài sản, từ khấu hao tài sản cố định, từ các quỹ, huy động cổ phần, góp vốn liên doanh của các bên đối tác liên doanh,…
        - Vốn khác là nguồn vốn đóng góp tự nguyện, cho, biếu, tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, là nguồn vốn huy động ngoài các nguồn vốn trên.
        3. Chia theo khoản mục đầu tư:
        - Vốn đầu tư được chia thành: Đầu tư xây dựng cơ bản; mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản; sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định; bổ sung vốn lưu động bằng nguồn vốn tự có; đầu tư khác. Trong đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất.
        Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là tổng chi phí bằng tiền mà chủ đầu tư thuộc tất cả các loại hình kinh tế dùng cho việc xây mới, mở rộng, xây dựng lại các dự án/công trình như: Đường xá, cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện, nhà xưởng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh,....
        Tùy theo mục đích nghiên cứu, vốn đầu tư xây dựng cơ bản có thể được phân tổ theo các tiêu thức khác nhau. Cùng với những phân tổ theo ngành kinh tế, theo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (theo địa bàn), thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn được phân theo yếu tố cấu thành với 3 nhóm chính:
         - Vốn đầu tư xây dựng và lắp đặt thiết bị (vốn xây lắp) là phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản chi cho việc xây dựng và lắp đặt máy móc, thiết bị của công trình gồm chi phí xây dựng công trình, chi phí lắp đặt máy móc, thiết bị vào vị trí công trình, chi phí hoàn thiện công trình.
        - Vốn đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị (vốn thiết bị) là phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản chi cho việc mua sắm máy móc, thiết bị và các dụng cụ, khí cụ, gia súc đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định theo quy định hiện hành, gồm: Giá trị thiết bị, máy móc, dụng cụ, khí cụ, gia súc được coi là tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bảo quản, gia công, kiểm tra máy móc, thiết bị và các dụng cụ, khí cụ trước khi đưa vào lắp đặt. Vốn thiết bị gồm cả giá trị mua sắm thiết bị máy móc cần lắp đặt và thiết bị máy móc không cần lắp đặt.
        - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản khác là phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản không thuộc vốn xây lắp và vốn thiết bị, gồm: Chi phí tư vấn, đầu tư khảo sát, thiết kế, chi quản lý, chi giải phóng mặt bằng, chi đào tạo lao động tiếp nhận và vận hành công trình, các khoản chi khác.
        4. Chia theo loại hình kinh tế, vốn đầu tư chia thành 3 loại hình kinh tế:
        - Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước;
        - Vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước;
        - Vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài./.

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2024

CHỈ SỐ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (IIP)

         IIP 2023 - LONG AN

 Ý nghĩa: IIP là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khái quát tình hình phát triển ngành công nghiệp nói chung và tốc độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng; đáp ứng nhu cầu thông tin của cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư và các đối tượng dùng tin khác.

           a) Khái niệm, phương pháp tính
        Chỉ số sản xuất công nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất công nghiệp tạo ra trong kỳ hiện tại so với khối lượng sản xuất công nghiệp kỳ gốc.
        Chỉ số sản xuất công nghiệp có thể tính với nhiều kỳ gốc khác nhau tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu. Ở nước ta hiện nay thường chọn kỳ gốc so sánh là cùng kỳ năm trước và kỳ trước liền kề; ít sử dụng gốc so sánh là một tháng cố định của một năm nào đó. Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới sử dụng gốc so sánh là tháng bình quân của một năm được chọn làm gốc để tính “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”.
        Việc tính chỉ số sản xuất công nghiệp được bắt đầu từ tính chỉ số sản xuất của sản phẩm hay còn gọi là chỉ số cá thể. Từ chỉ số cá thể có thể tính cho các chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp cấp 4, cấp 2, cấp 1 và toàn ngành công nghiệp; cũng có thể tính cho một địa phương và cho toàn quốc.
        b) Quy trình tính toán
        - Tính chỉ số sản xuất của một sản phẩm
        Tính chỉ số sản xuất cho từng sản phẩm riêng biệt tuy đơn giản nhưng lại rất quan trọng, bởi các chỉ số của từng sản phẩm sẽ là cơ sở để tính chỉ số chung cho ngành, cho địa phương và cho toàn quốc. Nếu các chỉ số của từng sản phẩm thiếu chính xác sẽ làm cho chỉ số chung không chính xác.
        - Tính chỉ số sản xuất của một ngành công nghiệp cấp 4
        Chỉ số sản xuất của toàn ngành công nghiệp là chỉ số bình quân gia quyền các chỉ số sản xuất của các ngành công nghiệp cấp 1 (gồm 4 ngành công nghiệp cấp 1 là: Công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải).
Nguồn số liệu: Điều tra ngành công nghiệp.

Tất cả cảm xú

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

 HIỂU ĐÚNG VỀ DÂN SỐ TRONG THỐNG KÊ

BỨC TRANH DÂN SỐ THẾ GIỚI NĂM 2023




Ý nghĩa: Là chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản, quan trọng đối với xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quản lý và điều hành nền kinh tế. Xuất phát từ những đặc trưng và các yếu tố dân số có thể nghiên cứu và dự báo các vấn đề kinh tế - xã hội khác, số liệu dân số còn là chỉ tiêu cơ bản dùng để tính các chỉ tiêu bình quân đầu người và các chỉ tiêu nhân khẩu học khác. 

      
        Khái niệm, phương pháp tính
        Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính.
        Trong thống kê, dân số được thu thập theo khái niệm nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ, là những người thực tế thường xuyên ăn, ở tại hộ tính đến thời điểm điều tra đã được 6 tháng trở lên, trẻ em mới sinh trước thời điểm điều tra và những người mới chuyển đến sẽ ở ổn định tại hộ, không phân biệt có hay không có hộ khẩu thường trú tại xã, phường, thị trấn đang ở và những người tạm vắng. Nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ gồm:
        - Người thực tế thường xuyên ăn, ở tại hộ tính đến thời điểm thống kê đã được 6 tháng trở lên.
        - Người mới chuyển đến chưa được 6 tháng nhưng xác định sẽ ăn, ở ổn định tại hộ và những trẻ em mới sinh trước thời điểm thống kê; không phân biệt họ đã có hay không có giấy tờ pháp lý chứng nhận sự di chuyển đó.
        - Người tạm vắng gồm người rời hộ đi làm ăn ở nơi khác chưa được 6 tháng tính đến thời điểm thống kê; người đang làm việc hoặc học tập trong nước trong thời hạn 6 tháng; người đang đi thăm, đi chơi nhà người thân, đi nghỉ hè, nghỉ lễ, đi du lịch, sẽ quay trở lại hộ; người đi công tác, đi đánh bắt hải sản, đi tàu viễn dương, đi buôn chuyến; người được cơ quan có thẩm quyền cho phép đi làm việc, công tác, học tập, chữa bệnh, du lịch ở nước ngoài, tính đến thời điểm thống kê họ vẫn còn ở nước ngoài trong thời hạn được cấp phép; người đang chữa bệnh nội trú tại các cơ sở y tế; người đang bị ngành quân đội, công an tạm giữ.
        Chỉ tiêu dân số được chi tiết thành một số chỉ tiêu cơ bản như sau:
        - Dân số thời điểm là dân số tại một thời điểm cụ thể.
        - Dân số trung bình là dân số tính bình quân cho cả một thời kỳ.
        Công thức tính:
        + Nếu chỉ có số liệu tại hai thời điểm (đầu và cuối của thời kỳ ngắn, thường là một năm), sử dụng công thức:
        Ptb = (P0 + P1)/2
        Trong đó:
        Ptb: Dân số trung bình;
        P0: Dân số đầu kỳ;
        P1: Dân số cuối kỳ.
        + Nếu có số liệu tại nhiều thời điểm cách đều nhau, sử dụng công thức:
        Ptb = P0 + P1 + .... + Pn-1 + Pn
        Trong đó:
        Ptb : Dân số trung bình;
        P0,1,...,n : Dân số ở các thời điểm 0, 1,..., n;
        n : Số thời điểm cách đều nhau.
        + Nếu có số liệu tại nhiều thời điểm không cách đều nhau, sử dụng công thức:
        Ptb = Ptb1t1 + Ptb2t2 + .... + Ptbntn

        Trong đó:
        Ptb : Dân số trung bình;
        Ptb1 : Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ nhất;
        Ptb2 : Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ 2;
        Ptbn : Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ n;

        Nguồn số liệu: Tổng điều tra dân số và nhà ở; Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ; Điều tra biến động dân số  và kế hoạch hóa gia đình; Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
        

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2024

 

Long An: Chanh không hạt chính thức có Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận 'Bến Lức - Long An' 

Ngày 04/7, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Long An tổ chức Hội thảo khoa học công bố Quyết định, trao Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hiệu chứng nhận “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt của tỉnh Long An.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Hồ Thị Ngọc Lan nhận Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý từ Cục Sở hữu trí tuệ

Tham dự hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) - Trần Lê Hồng; Giám đốc Sở KH&CN - Nguyễn Minh Hải; Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Hồ Thị Ngọc Lan; Phó Giám đốc Sở Công Thương - Trần Thanh Toản; đại diện Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ và Sở hữu trí tuệ CIPTEK, đại diện một số doanh nghiệp, hợp tác xã có tham gia sản xuất, xuất khẩu chanh không hạt.

Chanh không hạt là một trong những sản phẩm chủ lực của tỉnh Long An

Chanh không hạt là một trong những sản phẩm chủ lực của tỉnh, mang lại giá trị kinh tế cao cho nông dân huyện Bến Lức và các vùng lân cận. Hiện nay, diện tích trồng chanh không hạt trên địa bàn tỉnh Long An đạt trên 10.000ha, trong đó huyện Bến Lức chiếm trên 60%.

Giám đốc Sở KH&CN - Nguyễn Minh Hải khẳng định, việc triển khai xây dựng Chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt của tỉnh Long An là chủ trương đúng đắn, kịp thời của tỉnh Long An nhằm bảo vệ uy tín, chất lượng cho quả chanh không hạt của tỉnh.

Sau hơn 2 năm triển khai, thực hiện đề tài “Tạo lập, quản lý và quảng bá Chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt tỉnh Long An” do Cử nhân Đào Phương Hạnh là chủ nhiệm nhiệm vụ, Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ và Sở hữu trí tuệ CIPTEK là đơn vị chủ trì thực hiện, đến nay quả chanh không hạt đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hiệu chứng nhận “Bến Lức - Long An”.

Logo nhận diện chỉ dẫn địa lý chanh không hạt Bến Lức - Long An

Chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt chỉ là bước khởi đầu. Thời gian tới, Sở KH&CN sẽ phối hợp các cơ quan, tổ chức quản lý Chỉ dẫn địa lý là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, UBND huyện Bến Lức, Sở Công Thương tiếp tục xây dựng các chính sách, hướng dẫn chuyên môn nhằm tạo điều kiện để các tổ chức, người sản xuất, kinh doanh có thể sử dụng Chỉ dẫn địa lý một cách hiệu quả.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ - Nguyễn Minh Hải và Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Hồ Thị Ngọc Lan trao quyết định cho 3 đơn vị đạt điều kiện sử dụng chỉ dẫn địa lý

Theo Quyết định số 173/QĐ-SNN, ngày 15/3/2024 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý “Bến Lức - Long An” cho quả chanh không hạt của tỉnh Long An, có 3 đơn vị đạt điều kiện sử dụng gồm Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Bến Lức (trụ sở tại xã Lương Hòa, khu vực địa lý sản xuất chanh gồm huyện Bến Lức, Thủ Thừa); Công ty TNHH MTV The Fruit Republic Cần Thơ (trụ sở tại TP.Cần Thơ, khu vực địa lý sản xuất chanh gồm huyện Bến Lức, Thạnh Hóa, Đức Huệ, Thủ Thừa); Công ty TNHH XNK Hoàng Kim Việt Nam - chi nhánh Long An (trụ sở tại xã Thạnh Lợi, khu vực địa lý sản xuất chanh gồm trên địa bàn huyện Bến Lức).

Chanh không hạt của Công ty TNHH MTV The Fruit Republic Cần Thơ sử dụng Chỉ dẫn địa lý chanh không hạt Bến Lức - Long An 

Tại Long An, tính đến tháng 6/2024 có 3 sản phẩm có Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý gồm sản phẩm thanh long Châu Thành - Long An, khoai mỡ Bến Kè Thạnh Hóa, chanh không hạt Bến Lức - Long An; 4 nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm gồm thanh long Châu Thành Long An, nếp Thủ Thừa Long An, khoai mỡ Bến Kè Thạnh Hóa và chanh không hạt Bến Lức - Long An./.

Mai Hương

Nguồn: https://baolongan.vn/

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2024

Chi cục Thống kê huyện Bến Lức

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG 

'Bệnh' sợ trách nhiệm - 'điểm nghẽn' trong công tác cán bộ hiện nay

  •  

Phòng, chống sự suy thoái trong cán bộ, đảng viên
        Thời gian gần đây, tình trạng sợ trách nhiệm, không dám hành động vì lợi ích chung trong một bộ phận cán bộ, công chức (CBCC) rất đáng lo ngại, gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với đội ngũ CBCC về trách nhiệm đối với chức trách, nhiệm vụ được giao.

        Nguồn gốc chủ yếu của “bệnh" sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân

        Trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến căn nguyên của "bệnh" sợ trách nhiệm rất cụ thể: “Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực; tôi muốn địa vị cao nhưng lại sợ trách nhiệm”. Theo Bác, những người mắc "bệnh" sợ trách nhiệm là những người: “Họ muốn địa vị cao nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo. Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn”.

        Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, có bài viết "Bệnh" sợ trách nhiệm đăng trên Tạp chí Cộng Sản, số 11/1973; bút danh Người Xây Dựng, tác giả nêu rõ: Nhiệm vụ trước mắt đòi hỏi mọi người phải có tinh thần trách nhiệm rất cao, nhưng hiện nay trong cán bộ, đảng viên ta còn có đồng chí sợ trách nhiệm.

        Biểu hiện của “bệnh" sợ trách nhiệm là: Thường làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm khuyết điểm gì lớn vì sợ phải chịu trách nhiệm về những việc xảy ra nên không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ. Người sợ trách nhiệm thường rụt rè, do dự trong khi giải quyết công việc, không phát biểu rõ ràng, dứt khoát ý kiến của mình, không dám quyết đoán những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình. Vì muốn trốn tránh trách nhiệm cá nhân, các đồng chí này thường vịn vào lý do chưa có chỉ thị của cấp trên để ỷ lại và chờ đợi một cách thụ động. Người sợ trách nhiệm cũng thường lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể, dựa dẫm vào tập thể. Người sợ trách nhiệm còn ngại “va chạm” trong quan hệ với các đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả với cấp dưới.

        Hậu quả của “bệnh" sợ trách nhiệm là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, giậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm nâng cao. Từ việc chỉ ra các biểu hiện của “bệnh” sợ trách nhiệm, tác giả cuốn sách trên cũng chỉ rõ: Nguồn gốc chủ yếu của “bệnh" sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo "bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh, thiếu hẳn “tinh thần trách nhiệm nghiêm túc, tính kiên quyết, tính nguyên tắc trong khi giải quyết các vấn đề”, không dám đương đầu trước những khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, chỉ tránh khó ngại phiền. Vì vậy, khắc phục “bệnh" sợ trách nhiệm trước hết là phải chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tinh thần cách mạng của cán bộ, đảng viên, làm cho mỗi người đều có tinh thần xả thân vì sự nghiệp cách mạng, đều thật sự “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

        Khắc phục “bệnh" sợ trách nhiệm

        Thời gian qua, “bệnh" sợ trách nhiệm đã hình thành một bộ phận cán bộ núp bóng, không vì lợi ích chung, dĩ hòa vi quý, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, có biểu hiện thờ ơ, vô cảm với nhiệm vụ được giao và trách nhiệm với nhân dân. Để kịp thời khắc phục tình trạng này, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”. Bên cạnh đó, chữa căn bệnh này cần phải thống nhất nhận thức, trách nhiệm về nâng cao đạo đức cách mạng của CBCC nhằm hình thành, củng cố trong đội ngũ CBCC các yếu tố cơ bản về nhận thức, thái độ và hành vi chính trị. Mỗi CBCC có nhận thức chính trị đúng sẽ hình thành tình cảm, ý chí cách mạng tốt. Thái độ chính trị của CBCC là những biểu hiện cử chỉ, lời nói, việc làm xuất phát từ nhận thức, suy nghĩ, tình cảm trước những vấn đề chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng. Thái độ chính trị phản ánh cách nhìn nhận, suy nghĩ và chi phối hành động của CBCC. Hành vi chính trị của CBCC là hành động mang tính chính trị như tiên phong, gương mẫu trong công tác, lao động, học tập, sinh hoạt; đi đầu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị. Phẩm chất chính trị của CBCC là kiên định, tin tưởng mục tiêu do Đảng ta đề ra, không hoang mang, dao động về chính trị, tư tưởng, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới đất nước, có bản lĩnh chính trị, nhạy bén, luôn nêu cao cảnh giác, có thái độ đúng đắn trước những diễn biến phức tạp của tình hình KT-XH, phân biệt rõ đối tượng, đối tác. Bản lĩnh chính trị sẽ góp phần tạo nên sức mạnh, uy tín, sự thống nhất ý chí, hành động và từ đó khắc phục được "bệnh" sợ trách nhiệm đang diễn ra hiện nay.

        Rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ và tính răn đe, giáo dục, không để người xấu, người thiếu trách nhiệm lợi dụng kẽ hở để trục lợi và cũng tạo ra sự an tâm cho CBCC thực thi nhiệm vụ. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, XIII của Đảng, Đảng ta đã ban hành các văn bản: Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập về làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Quy định số 55-QĐ/TW về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Kết luận số 14-KL/TW của Ban Bí thư về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động sáng tạo vì lợi ích chung”;...

        Đổi mới phương pháp đánh giá CBCC để khuyến khích tinh thần dám đương đầu với khó khăn, dám sáng tạo, đột phá vươn lên, xóa tư tưởng “an phận thủ thường”, “làm nhiều sai nhiều”, “làm ít sai ít”, “không làm không sai” trong một bộ phận CBCC, viên chức. Cách đánh giá cần phải giúp người được giao việc, nhất là việc mới, việc khó vững tâm tin rằng, nếu mình làm vì lợi ích chung sẽ được nhìn nhận đúng, phát huy được tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Khi CBCC được đánh giá đúng sẽ khơi dậy được sự chủ động, sáng tạo trong công việc, dám nghĩ, dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước công việc của mình, tránh tình trạng chọn việc nhẹ, việc dễ và có “bổng lộc” mà đùn đẩy việc khó cho người khác, cho tập thể.

        Mỗi CBCC tăng cường tự soi, tự sửa, tự rèn luyện đạo đức, lối sống góp phần khắc phục “bệnh" sợ trách nhiệm. Phẩm chất đạo đức, lối sống của CBCC quan hệ mật thiết với phẩm chất chính trị. Người CBCC có giác ngộ chính trị, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa sẽ có tình yêu thương đồng chí, kính trọng nhân dân, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cách mạng. Những phẩm chất tốt đẹp như “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” sẽ giúp CBCC củng cố, phát triển các phẩm chất chính trị như sự kiên định lập trường, tư tưởng, tính tiên phong, gương mẫu.

        Tăng cường kiểm tra, giám sát CBCC về việc quán triệt, tổ chức thực hiện Cương lĩnh, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, điều lệ, quy chế, quy định, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; rèn luyện đạo đức, lối sống; thực hiện nghiêm những điều đảng viên không được làm; việc giữ gìn đoàn kết nội bộ; quan hệ với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trên cơ sở mở rộng, đề cao dân chủ nhằm kích thích tinh thần dám nghĩ, dám làm và các nhân tố mới. Thực hiện linh hoạt các phương pháp kiểm tra, giám sát trực tiếp và hình thức kiểm tra cán bộ, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Tập thể cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu cấp ủy; cơ quan, địa phương, đơn vị; ủy ban kiểm tra các cấp cần thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm của mình trong kiểm tra, giám sát CBCC.

        Việc khen thưởng, kỷ luật CBCC bảo đảm nguyên tắc khen thưởng đúng người, đúng thành tích và đúng lúc; kỷ luật đúng người, đúng mức độ vi phạm, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng nhằm tạo động lực cho CBCC dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và góp phần khắc phục “bệnh” sợ trách nhiệm hiện nay./.

Huyền Linh

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2024

 Tiếp đoàn UBND huyện Dầu Tiếng đến học tập, trao đổi kinh nghiệm

Ngày 01/6/2024, UBND huyện Bến Lức đã có buổi làm việc với Đoàn công tác của UBND huyện Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương) về trao đổi kinh nghiệm việc hợp nhất giữa Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và Trung tâm Phát triển quỹ đất. Tham dự buổi làm việc, về phía UBND huyện Dầu Tiếng có ông Trần Khắc Quân, Phó Chủ tịch UBND huyện cùng đại diện các phòng, ban liên quan; về phía UBND huyện Bến Lức có ông Lê Thành Út, Chủ tịch UBND huyện cùng lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn.

Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo 02 đơn vị đã thông tin chung về tình hình phát triển kinh tế xã hội địa phương trong thời gian qua; quy trình hợp nhất và cơ chế, vận hành Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và Trung tâm Phát triển quỹ đất. Những thuận lợi, khó khăn sau khi hợp nhất các đơn vị, …. Tại huyện Bến Lức, sau khi hợp nhất, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND huyện, tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; có tư cách pháp nhân, có trụ sở và con dấu riêng. Ban chịu sự quản lý về tổ chức, số lượng người làm việc và công tác của UBND huyện; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của sở, ban, ngành có liên quan. Cơ cấu tổ chức gồm: Giám đốc và các phó giám đốc thực hiện theo quy định hiện hành. Các bộ phận chức năng, nghiệp vụ trực thuộc do UBND huyện quyết định số lượng, tên gọi các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có cơ sở pháp lý thực hiện.

Anh-tin-bai

Quang cảnh buổi học tập, trao đổi kinh nghiệm

Trên cơ sở trao đổi những kinh nghiệm hay, cách làm hiệu quả trong việc triển khai hợp nhất Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành Ban Quản lý dự án đầu tư xây huyện, lãnh đạo UBND huyện Dầu Tiếng và UBND huyện Bến Lức mong muốn hai địa phương tiếp tục có sự phối hợp, gắn bó mật thiết hơn nữa và tăng cường học hỏi lẫn nhau trong công tác./.

Việt Hằng – Kim Phượng

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2024

 

Cách thống kê GDP, CPI của Việt Nam tương đồng cách tính của thế giới


Bà Nguyễn Thị Hương - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chia sẻ với Lao Động về các phương pháp tính CPI, GDP hiện nay Việt Nam đang thực hiện.
gdp ba huong

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương. Ảnh: TL
 

Thưa bà, trong 6 tháng năm 2022, giá hàng hóa phi mã nhưng chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, số liệu thống kê có chính xác?

- Trong 6 tháng đầu năm 2022, có một số yếu tố đã tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) như: Giá xăng dầu được điều chỉnh 16 đợt, làm cho giá xăng A95 tăng 11.960 đồng/lít; xăng E5 tăng 11.540 đồng/lít và dầu diezen tăng 13.900 đồng/lít. Bình quân 6 tháng, giá xăng dầu trong nước tăng 51,83% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 1,87 điểm phần trăm. Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 6 tháng đầu năm tăng 25,92% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm.

Dịch COVID-19 đã được kiểm soát, nhu cầu ăn ngoài nhà hàng tăng nên giá ăn uống ngoài gia đình bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,3 điểm phần trăm. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở 6 tháng tăng 7,95% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tác động làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số yếu tố đã giúp kìm giữ CPI 6 tháng ở mức 2,44%. Cụ thể là giá các mặt hàng thực phẩm 6 tháng đầu năm giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,08 điểm phần trăm. Giá dịch vụ giáo dục giảm 3,56% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn giảm học phí từ học kỳ I năm học 2021-2022 do ảnh hưởng của dịch COVID-19, làm CPI chung giảm 0,19 điểm phần trăm. Giá bưu chính viễn thông giảm 0,55% so với cùng kỳ năm trước do giá điện thoại di động giảm.

Đồng thời, để chủ động ứng phó với những thách thức trước áp lực lạm phát gia tăng, trong thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn giá, hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.

Các chính sách được ban hành kịp thời giúp ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân, giảm áp lực đáng kể lên mặt bằng giá như giảm thuế giá trị gia tăng với một số nhóm hàng hóa và dịch vụ từ 10% xuống 8% từ ngày 1.2.2022; giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 1.1.2022 đến hết ngày 31.12.2022; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022; giảm 50% thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu từ ngày 1.4.2022.

Do đó, chúng ta đã kiểm soát được lạm phát 6 tháng đầu năm ở mức 2,44%.

Bà đánh giá thế nào về cách tính CPI của Việt Nam? Cách tính đó có tương đồng với cách tính của thế giới?

- Về phương pháp tính CPI, Tổng cục Thống kê áp dụng từ năm 1995 đến nay theo đúng hướng dẫn của quốc tế và hiện nay thực hiện theo Tài liệu hướng dẫn biên soạn Chỉ số giá tiêu dùng mới nhất của các tổ chức quốc tế ban hành năm 2020.

Do đó, phương pháp tính CPI của Tổng cục Thống kê phản ánh sát diễn biến giá tiêu dùng trên thị trường và bảo đảm tính so sánh với số liệu của các nước trên thế giới cũng như trong khu vực.

Hàng năm, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cử chuyên gia đến Việt Nam rà soát và đánh giá nguồn thông tin, phương pháp tính, mặt hàng đại diện và quyền số dùng để tính CPI theo tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Các tổ chức quốc tế khác như Cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc (UNSD), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đều sử dụng số liệu CPI của Tổng cục Thống kê trong các báo cáo và đánh giá phương pháp tính CPI của Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam do Tổng cục Thống kê công bố hàng quý và hàng năm tuân thủ nguyên tắc nào, thưa bà?

- Về phương pháp tính GDP, hầu hết các quốc gia trên thế giới khi biên soạn chỉ tiêu GDP đều dựa trên phương pháp luận về Hệ thống tài khoản quốc gia do cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc biên soạn và hướng dẫn cho các quốc gia thành viên. Chỉ tiêu GDP của Việt Nam do Tổng cục Thống kê biên soạn và công bố hàng quý và hàng năm cũng tuân thủ chặt chẽ về phương pháp biên soạn của cơ quan Liên Hợp Quốc từ khâu thu thập, xử lý thông tin, sắp xếp các ngành, hoạt động theo các phân tổ đến việc áp dụng phương pháp tính.

Chỉ tiêu GDP của Việt Nam hàng quý, năm được biên soạn theo 2 phương pháp, từ góc độ sản xuất gọi là phương pháp sản xuất và từ góc độ sử dụng gọi là phương pháp sử dụng. Hai phương pháp này dựa vào hoạt động sản xuất và hành vi tiêu dùng của các chủ thể của toàn bộ nền kinh tế. Đây là cách làm khoa học, vừa đảm bảo xem xét được đầy đủ hoạt động sản xuất và hành vi tiêu dùng cũng như vừa có thể so sánh, đối chiếu để đánh giá tính chính xác của từng phương pháp, bổ trợ thông tin để kiểm tra chéo về chuỗi các hoạt động sản xuất - tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo phương pháp sản xuất, kết quả sản xuất của các ngành kinh tế của cả nước tạo ra trong quý được tiếp cận từ các đơn vị sản xuất gồm: Doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty, hộ sản xuất nông, lâm thủy sản, cơ sở kinh doanh cá thể phi nông lâm thủy sản, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp… qua các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí, sản lượng, diện tích… từ các nguồn gồm: Điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê quốc gia, hồ sơ hành chính…

Theo phương pháp sử dụng, GDP được tính toán dựa vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ; số liệu về thu, chi ngân sách Nhà nước (từ Bộ tài chính); trị giá xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ (số liệu từ Tổng cục Hải quan); kết quả hoạt động xây dựng, nhập khẩu máy móc thiết bị và từ kết quả nhiều cuộc điều tra khác…

- Xin cảm ơn bà!

Số liệu thống kê phản ánh theo quy luật số lớn, những số liệu do Tổng cục Thống kê tính toán và công bố đã phản ánh sát tình hình hình kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương, không có tình trang “làm đẹp con số”. Việc kiểm soát chất lượng thông tin thống kê được Luật hóa bằng Luật Thống kê năm 2015 và được kiểm soát bằng những biện pháp kỹ thuật.

Với góc nhìn đa chiều, kết quả tính toán GDP dù ở thời điểm nào cũng phải tuân theo các quy định cụ thể, chặt chẽ về phương pháp luận và đảm bảo logic, phù hợp với thực trạng kinh tế của Việt Nam.

Bên cạnh đó, sau khi công bố kết quả tính toán GDP, Tổng cục Thống kê cũng cung cấp số liệu này cho các cơ quan, tổ chức quốc tế như: UNSD, IMF, WB, ADV, Cơ quan Thống kê Asean và đều được các tổ chức này đánh giá cao về chất lượng thông tin và đảm bảo tính so sánh quốc tế với các quốc gia khác trên thế giới".

(Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương)

Tác giả bài viết: VŨ LONG

Nguồn tin: laodong.vn