"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2024

Chi cục Thống kê huyện Bến Lức

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG 

'Bệnh' sợ trách nhiệm - 'điểm nghẽn' trong công tác cán bộ hiện nay

  •  

Phòng, chống sự suy thoái trong cán bộ, đảng viên
        Thời gian gần đây, tình trạng sợ trách nhiệm, không dám hành động vì lợi ích chung trong một bộ phận cán bộ, công chức (CBCC) rất đáng lo ngại, gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với đội ngũ CBCC về trách nhiệm đối với chức trách, nhiệm vụ được giao.

        Nguồn gốc chủ yếu của “bệnh" sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân

        Trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến căn nguyên của "bệnh" sợ trách nhiệm rất cụ thể: “Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực; tôi muốn địa vị cao nhưng lại sợ trách nhiệm”. Theo Bác, những người mắc "bệnh" sợ trách nhiệm là những người: “Họ muốn địa vị cao nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo. Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn”.

        Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, có bài viết "Bệnh" sợ trách nhiệm đăng trên Tạp chí Cộng Sản, số 11/1973; bút danh Người Xây Dựng, tác giả nêu rõ: Nhiệm vụ trước mắt đòi hỏi mọi người phải có tinh thần trách nhiệm rất cao, nhưng hiện nay trong cán bộ, đảng viên ta còn có đồng chí sợ trách nhiệm.

        Biểu hiện của “bệnh" sợ trách nhiệm là: Thường làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm khuyết điểm gì lớn vì sợ phải chịu trách nhiệm về những việc xảy ra nên không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ. Người sợ trách nhiệm thường rụt rè, do dự trong khi giải quyết công việc, không phát biểu rõ ràng, dứt khoát ý kiến của mình, không dám quyết đoán những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình. Vì muốn trốn tránh trách nhiệm cá nhân, các đồng chí này thường vịn vào lý do chưa có chỉ thị của cấp trên để ỷ lại và chờ đợi một cách thụ động. Người sợ trách nhiệm cũng thường lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể, dựa dẫm vào tập thể. Người sợ trách nhiệm còn ngại “va chạm” trong quan hệ với các đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả với cấp dưới.

        Hậu quả của “bệnh" sợ trách nhiệm là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, giậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm nâng cao. Từ việc chỉ ra các biểu hiện của “bệnh” sợ trách nhiệm, tác giả cuốn sách trên cũng chỉ rõ: Nguồn gốc chủ yếu của “bệnh" sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo "bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh, thiếu hẳn “tinh thần trách nhiệm nghiêm túc, tính kiên quyết, tính nguyên tắc trong khi giải quyết các vấn đề”, không dám đương đầu trước những khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, chỉ tránh khó ngại phiền. Vì vậy, khắc phục “bệnh" sợ trách nhiệm trước hết là phải chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tinh thần cách mạng của cán bộ, đảng viên, làm cho mỗi người đều có tinh thần xả thân vì sự nghiệp cách mạng, đều thật sự “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

        Khắc phục “bệnh" sợ trách nhiệm

        Thời gian qua, “bệnh" sợ trách nhiệm đã hình thành một bộ phận cán bộ núp bóng, không vì lợi ích chung, dĩ hòa vi quý, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, có biểu hiện thờ ơ, vô cảm với nhiệm vụ được giao và trách nhiệm với nhân dân. Để kịp thời khắc phục tình trạng này, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”. Bên cạnh đó, chữa căn bệnh này cần phải thống nhất nhận thức, trách nhiệm về nâng cao đạo đức cách mạng của CBCC nhằm hình thành, củng cố trong đội ngũ CBCC các yếu tố cơ bản về nhận thức, thái độ và hành vi chính trị. Mỗi CBCC có nhận thức chính trị đúng sẽ hình thành tình cảm, ý chí cách mạng tốt. Thái độ chính trị của CBCC là những biểu hiện cử chỉ, lời nói, việc làm xuất phát từ nhận thức, suy nghĩ, tình cảm trước những vấn đề chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng. Thái độ chính trị phản ánh cách nhìn nhận, suy nghĩ và chi phối hành động của CBCC. Hành vi chính trị của CBCC là hành động mang tính chính trị như tiên phong, gương mẫu trong công tác, lao động, học tập, sinh hoạt; đi đầu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị. Phẩm chất chính trị của CBCC là kiên định, tin tưởng mục tiêu do Đảng ta đề ra, không hoang mang, dao động về chính trị, tư tưởng, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới đất nước, có bản lĩnh chính trị, nhạy bén, luôn nêu cao cảnh giác, có thái độ đúng đắn trước những diễn biến phức tạp của tình hình KT-XH, phân biệt rõ đối tượng, đối tác. Bản lĩnh chính trị sẽ góp phần tạo nên sức mạnh, uy tín, sự thống nhất ý chí, hành động và từ đó khắc phục được "bệnh" sợ trách nhiệm đang diễn ra hiện nay.

        Rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ và tính răn đe, giáo dục, không để người xấu, người thiếu trách nhiệm lợi dụng kẽ hở để trục lợi và cũng tạo ra sự an tâm cho CBCC thực thi nhiệm vụ. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, XIII của Đảng, Đảng ta đã ban hành các văn bản: Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập về làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Quy định số 55-QĐ/TW về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Kết luận số 14-KL/TW của Ban Bí thư về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động sáng tạo vì lợi ích chung”;...

        Đổi mới phương pháp đánh giá CBCC để khuyến khích tinh thần dám đương đầu với khó khăn, dám sáng tạo, đột phá vươn lên, xóa tư tưởng “an phận thủ thường”, “làm nhiều sai nhiều”, “làm ít sai ít”, “không làm không sai” trong một bộ phận CBCC, viên chức. Cách đánh giá cần phải giúp người được giao việc, nhất là việc mới, việc khó vững tâm tin rằng, nếu mình làm vì lợi ích chung sẽ được nhìn nhận đúng, phát huy được tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Khi CBCC được đánh giá đúng sẽ khơi dậy được sự chủ động, sáng tạo trong công việc, dám nghĩ, dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước công việc của mình, tránh tình trạng chọn việc nhẹ, việc dễ và có “bổng lộc” mà đùn đẩy việc khó cho người khác, cho tập thể.

        Mỗi CBCC tăng cường tự soi, tự sửa, tự rèn luyện đạo đức, lối sống góp phần khắc phục “bệnh" sợ trách nhiệm. Phẩm chất đạo đức, lối sống của CBCC quan hệ mật thiết với phẩm chất chính trị. Người CBCC có giác ngộ chính trị, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa sẽ có tình yêu thương đồng chí, kính trọng nhân dân, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cách mạng. Những phẩm chất tốt đẹp như “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” sẽ giúp CBCC củng cố, phát triển các phẩm chất chính trị như sự kiên định lập trường, tư tưởng, tính tiên phong, gương mẫu.

        Tăng cường kiểm tra, giám sát CBCC về việc quán triệt, tổ chức thực hiện Cương lĩnh, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, điều lệ, quy chế, quy định, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; rèn luyện đạo đức, lối sống; thực hiện nghiêm những điều đảng viên không được làm; việc giữ gìn đoàn kết nội bộ; quan hệ với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trên cơ sở mở rộng, đề cao dân chủ nhằm kích thích tinh thần dám nghĩ, dám làm và các nhân tố mới. Thực hiện linh hoạt các phương pháp kiểm tra, giám sát trực tiếp và hình thức kiểm tra cán bộ, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Tập thể cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu cấp ủy; cơ quan, địa phương, đơn vị; ủy ban kiểm tra các cấp cần thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm của mình trong kiểm tra, giám sát CBCC.

        Việc khen thưởng, kỷ luật CBCC bảo đảm nguyên tắc khen thưởng đúng người, đúng thành tích và đúng lúc; kỷ luật đúng người, đúng mức độ vi phạm, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng nhằm tạo động lực cho CBCC dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và góp phần khắc phục “bệnh” sợ trách nhiệm hiện nay./.

Huyền Linh

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2024

 Tiếp đoàn UBND huyện Dầu Tiếng đến học tập, trao đổi kinh nghiệm

Ngày 01/6/2024, UBND huyện Bến Lức đã có buổi làm việc với Đoàn công tác của UBND huyện Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương) về trao đổi kinh nghiệm việc hợp nhất giữa Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và Trung tâm Phát triển quỹ đất. Tham dự buổi làm việc, về phía UBND huyện Dầu Tiếng có ông Trần Khắc Quân, Phó Chủ tịch UBND huyện cùng đại diện các phòng, ban liên quan; về phía UBND huyện Bến Lức có ông Lê Thành Út, Chủ tịch UBND huyện cùng lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn.

Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo 02 đơn vị đã thông tin chung về tình hình phát triển kinh tế xã hội địa phương trong thời gian qua; quy trình hợp nhất và cơ chế, vận hành Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và Trung tâm Phát triển quỹ đất. Những thuận lợi, khó khăn sau khi hợp nhất các đơn vị, …. Tại huyện Bến Lức, sau khi hợp nhất, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND huyện, tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; có tư cách pháp nhân, có trụ sở và con dấu riêng. Ban chịu sự quản lý về tổ chức, số lượng người làm việc và công tác của UBND huyện; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của sở, ban, ngành có liên quan. Cơ cấu tổ chức gồm: Giám đốc và các phó giám đốc thực hiện theo quy định hiện hành. Các bộ phận chức năng, nghiệp vụ trực thuộc do UBND huyện quyết định số lượng, tên gọi các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có cơ sở pháp lý thực hiện.

Anh-tin-bai

Quang cảnh buổi học tập, trao đổi kinh nghiệm

Trên cơ sở trao đổi những kinh nghiệm hay, cách làm hiệu quả trong việc triển khai hợp nhất Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành Ban Quản lý dự án đầu tư xây huyện, lãnh đạo UBND huyện Dầu Tiếng và UBND huyện Bến Lức mong muốn hai địa phương tiếp tục có sự phối hợp, gắn bó mật thiết hơn nữa và tăng cường học hỏi lẫn nhau trong công tác./.

Việt Hằng – Kim Phượng

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2024

 

Cách thống kê GDP, CPI của Việt Nam tương đồng cách tính của thế giới


Bà Nguyễn Thị Hương - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chia sẻ với Lao Động về các phương pháp tính CPI, GDP hiện nay Việt Nam đang thực hiện.
gdp ba huong

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương. Ảnh: TL
 

Thưa bà, trong 6 tháng năm 2022, giá hàng hóa phi mã nhưng chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, số liệu thống kê có chính xác?

- Trong 6 tháng đầu năm 2022, có một số yếu tố đã tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) như: Giá xăng dầu được điều chỉnh 16 đợt, làm cho giá xăng A95 tăng 11.960 đồng/lít; xăng E5 tăng 11.540 đồng/lít và dầu diezen tăng 13.900 đồng/lít. Bình quân 6 tháng, giá xăng dầu trong nước tăng 51,83% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 1,87 điểm phần trăm. Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 6 tháng đầu năm tăng 25,92% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm.

Dịch COVID-19 đã được kiểm soát, nhu cầu ăn ngoài nhà hàng tăng nên giá ăn uống ngoài gia đình bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,3 điểm phần trăm. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở 6 tháng tăng 7,95% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tác động làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số yếu tố đã giúp kìm giữ CPI 6 tháng ở mức 2,44%. Cụ thể là giá các mặt hàng thực phẩm 6 tháng đầu năm giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,08 điểm phần trăm. Giá dịch vụ giáo dục giảm 3,56% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn giảm học phí từ học kỳ I năm học 2021-2022 do ảnh hưởng của dịch COVID-19, làm CPI chung giảm 0,19 điểm phần trăm. Giá bưu chính viễn thông giảm 0,55% so với cùng kỳ năm trước do giá điện thoại di động giảm.

Đồng thời, để chủ động ứng phó với những thách thức trước áp lực lạm phát gia tăng, trong thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn giá, hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.

Các chính sách được ban hành kịp thời giúp ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân, giảm áp lực đáng kể lên mặt bằng giá như giảm thuế giá trị gia tăng với một số nhóm hàng hóa và dịch vụ từ 10% xuống 8% từ ngày 1.2.2022; giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 1.1.2022 đến hết ngày 31.12.2022; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022; giảm 50% thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu từ ngày 1.4.2022.

Do đó, chúng ta đã kiểm soát được lạm phát 6 tháng đầu năm ở mức 2,44%.

Bà đánh giá thế nào về cách tính CPI của Việt Nam? Cách tính đó có tương đồng với cách tính của thế giới?

- Về phương pháp tính CPI, Tổng cục Thống kê áp dụng từ năm 1995 đến nay theo đúng hướng dẫn của quốc tế và hiện nay thực hiện theo Tài liệu hướng dẫn biên soạn Chỉ số giá tiêu dùng mới nhất của các tổ chức quốc tế ban hành năm 2020.

Do đó, phương pháp tính CPI của Tổng cục Thống kê phản ánh sát diễn biến giá tiêu dùng trên thị trường và bảo đảm tính so sánh với số liệu của các nước trên thế giới cũng như trong khu vực.

Hàng năm, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cử chuyên gia đến Việt Nam rà soát và đánh giá nguồn thông tin, phương pháp tính, mặt hàng đại diện và quyền số dùng để tính CPI theo tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Các tổ chức quốc tế khác như Cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc (UNSD), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đều sử dụng số liệu CPI của Tổng cục Thống kê trong các báo cáo và đánh giá phương pháp tính CPI của Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam do Tổng cục Thống kê công bố hàng quý và hàng năm tuân thủ nguyên tắc nào, thưa bà?

- Về phương pháp tính GDP, hầu hết các quốc gia trên thế giới khi biên soạn chỉ tiêu GDP đều dựa trên phương pháp luận về Hệ thống tài khoản quốc gia do cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc biên soạn và hướng dẫn cho các quốc gia thành viên. Chỉ tiêu GDP của Việt Nam do Tổng cục Thống kê biên soạn và công bố hàng quý và hàng năm cũng tuân thủ chặt chẽ về phương pháp biên soạn của cơ quan Liên Hợp Quốc từ khâu thu thập, xử lý thông tin, sắp xếp các ngành, hoạt động theo các phân tổ đến việc áp dụng phương pháp tính.

Chỉ tiêu GDP của Việt Nam hàng quý, năm được biên soạn theo 2 phương pháp, từ góc độ sản xuất gọi là phương pháp sản xuất và từ góc độ sử dụng gọi là phương pháp sử dụng. Hai phương pháp này dựa vào hoạt động sản xuất và hành vi tiêu dùng của các chủ thể của toàn bộ nền kinh tế. Đây là cách làm khoa học, vừa đảm bảo xem xét được đầy đủ hoạt động sản xuất và hành vi tiêu dùng cũng như vừa có thể so sánh, đối chiếu để đánh giá tính chính xác của từng phương pháp, bổ trợ thông tin để kiểm tra chéo về chuỗi các hoạt động sản xuất - tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo phương pháp sản xuất, kết quả sản xuất của các ngành kinh tế của cả nước tạo ra trong quý được tiếp cận từ các đơn vị sản xuất gồm: Doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty, hộ sản xuất nông, lâm thủy sản, cơ sở kinh doanh cá thể phi nông lâm thủy sản, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp… qua các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí, sản lượng, diện tích… từ các nguồn gồm: Điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê quốc gia, hồ sơ hành chính…

Theo phương pháp sử dụng, GDP được tính toán dựa vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ; số liệu về thu, chi ngân sách Nhà nước (từ Bộ tài chính); trị giá xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ (số liệu từ Tổng cục Hải quan); kết quả hoạt động xây dựng, nhập khẩu máy móc thiết bị và từ kết quả nhiều cuộc điều tra khác…

- Xin cảm ơn bà!

Số liệu thống kê phản ánh theo quy luật số lớn, những số liệu do Tổng cục Thống kê tính toán và công bố đã phản ánh sát tình hình hình kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương, không có tình trang “làm đẹp con số”. Việc kiểm soát chất lượng thông tin thống kê được Luật hóa bằng Luật Thống kê năm 2015 và được kiểm soát bằng những biện pháp kỹ thuật.

Với góc nhìn đa chiều, kết quả tính toán GDP dù ở thời điểm nào cũng phải tuân theo các quy định cụ thể, chặt chẽ về phương pháp luận và đảm bảo logic, phù hợp với thực trạng kinh tế của Việt Nam.

Bên cạnh đó, sau khi công bố kết quả tính toán GDP, Tổng cục Thống kê cũng cung cấp số liệu này cho các cơ quan, tổ chức quốc tế như: UNSD, IMF, WB, ADV, Cơ quan Thống kê Asean và đều được các tổ chức này đánh giá cao về chất lượng thông tin và đảm bảo tính so sánh quốc tế với các quốc gia khác trên thế giới".

(Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương)

Tác giả bài viết: VŨ LONG

Nguồn tin: laodong.vn