"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2022

 Thống kê Bến Lức

                  Tăng tốc chuyển đổi số quốc gia


    Đại dịch Covid-19 xảy ra trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam đã tạo ra cú huých giúp Việt Nam có những bước tiến thần tốc trong chuyển đổi số (CĐS). Theo các chuyên gia, nếu năm 2021 Việt Nam thực hiện CĐS mạnh mẽ thì năm 2022 và cả giai đoạn tiếp theo được nhận định là thời điểm để tăng tốc. Đến nay, CĐS quốc gia đã đạt được kết quả ở cả 3 trụ cột là chính phủ số, kinh tế số và xã hội số với nhiều mục tiêu của 10 - 20 năm đã có thể thực hiện được trong 1 năm, thậm chí nhanh hơn.

    Tăng tốc chuyển đổi số quốc gia

    Năm 2022 là năm thúc đẩy mạnh mẽ CĐS ở mọi ngành trên phạm vi toàn quốc, toàn dân và toàn diện. Chính phủ Việt Nam coi hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, các nền tảng số quốc gia là yếu tố then chốt và đang nỗ lực tăng tốc lộ trình CĐS quốc gia. Tại phiên họp thứ 3 của Ủy ban Quốc gia về CĐS vừa diễn ra cho thấy, hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nghị quyết của cấp ủy, kế hoạch của chính quyền 5 năm và hằng năm về CĐS. Ban Chỉ đạo CĐS của toàn bộ 22/22 bộ, ngành và 63/63 địa phương được thành lập và đi vào hoạt động.

 Tăng tốc chuyển đổi số quốc gia

Ảnh minh họa (Nguồn: Interrnet)

    Công tác hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường pháp lý cho CĐS cũng được đẩy mạnh. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 8 văn bản quan trọng về CĐS (6 Quyết định, 1 Chỉ thị, 1 Nghị định).

    Hạ tầng công nghệ thông tin, các nền tảng số tiếp tục được phát triển từ trung ương đến địa phương, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu CĐS. Tốc độ truy cập mạng băng rộng cố định đã tăng 32,7%, mạng di động tăng 4,7% so với cùng kỳ. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước kết nối 4 cấp hành chính tiếp tục được phát triển, đã kết nối đến 100% huyện, hơn 97% xã trên toàn quốc.

    Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được đẩy mạnh triển khai, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích cho người dân và doanh nghiệp (DN). Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối liên thông với 11 bộ, ngành; 4 DN Nhà nước và 14 địa phương tiếp tục làm giàu dữ liệu dân cư“đúng, đủ, sạch, sống”. Bước đầu đưa vào thí điểm triển khai một số ứng dụng của thẻ căn cước. Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm quản lý thông tin của 27 triệu hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế, bao gồm thông tin của 98 triệu người dân.

    Bên cạnh đó, dịch vụ công trực tuyến được triển khai ngày càng hiệu quả, sâu rộng. Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp 3.699 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; hơn 2,1 triệu tài khoản đăng ký, tăng hơn 2,8 lần so với cùng kỳ; hơn 122,7 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ; hơn 4,1 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng Dịch vụ công quốc gia, tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ.

    Hoạt động CĐS trong DN diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây. Các DN đã chủ động tìm hướng đi mới, áp dụng CĐS trong vận hành để có thể duy trì tối đa hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mô hình nền kinh tế số được DN chú trọng trong định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Đặc biệt, quá trình CĐS của các DN công nghệ số Việt Nam đã khẳng định vai trò tiên phong trong nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển nền kinh tế số. Đến nay, Việt Nam đã có nhiều DN công nghệ lớn như: Viettel, VNPT, FPT, CMC BKAV, MISA… và các DN công nghệ mới nổi, phát triển từ hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo như: Momo, 1Office, Base.vn, Anvui… Ngoài ra, nhiều DN cũng đang tiếp tục nghiên cứu, phát triển ra các sản phẩm, nền tảng công nghệ phục vụ CĐS quốc gia.

    Quá trình CĐS giúp Việt Nam tạo ra nhiều ngành nghề kinh doanh mới và tạo ra việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Nguồn nhân lực cho CĐS cũng đang được chú trọng phát triển, đa dạng hình thức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn trong đó có thể kể đến sự hợp tác mới đây giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tập đoàn Google đã ra mắt chương trình phát triển nhân tài số (Google Career Certificates) và hỗ trợ DN khởi nghiệp (Google for Startups). Thông qua hai chương trình này giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số, cung cấp nhiều hơn các cơ hội học tập và phát triển cho những nhân tài và DN khởi nghiệp tại Việt Nam.

    Có thể nói, CĐS đang đi đúng hướng và đi nhanh, quyết liệt đưa công nghệ vào triển khai các mặt của đời sống kinh tế xã hội giúp thúc đẩy CĐS quốc gia, tỷ trọng kinh tế số trong GDP gia tăng. Nếu năm 2021, tỷ trọng kinh tế số trong GDP đạt khoảng 9,6% thì đến quý I/2022, tỷ trọng kinh tế số trong GDP tăng lên 10,2% và đến quý II/2022, con số này là 10,41%. Năm 2022, mục tiêu đặt ra, kinh tế số trong GDP sẽ chiếm 11,2%. Theo Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành, mục tiêu kinh tế số sẽ chiếm 20% GDP vào năm 2025 và 30% GDP vào năm 2030.

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được CĐS thời gian qua còn một số khó khăn, vướng mắc như: Số lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin, CĐS còn rất hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu CĐS; Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu còn nhiều hạn chế, vướng mắc, chưa hiệu quả, chưa hình thành một hệ thống liên thông, thông suốt. Hạ tầng công nghệ thông tin của nhiều bộ, ngành, địa phương đã đầu tư từ lâu, thiếu đồng bộ, chưa được nâng cấp, không bảo đảm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu; Tỉ lệ xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng chưa cao; thiếu cơ chế giám sát triển khai CĐS.

    Để tiếp tục thực hiện CĐS đi đúng hướng, đi nhanh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, ngày 3/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 749 QĐ-TTg về Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Tầm nhìn của Việt Nam là trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.

    Chương trình hướng tới mục tiêu kép vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các DN công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu. Chương trình đặt ra mục tiêu đến năm 2025: Việt Nam thuộc nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI); kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI); Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI); Việt Nam thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII); hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 50%; Việt Nam thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI). Đến năm 2030, 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 90% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 70% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); Hình thành nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan Nhà nước và hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT), kết nối, chia sẻ rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước, giảm 30% thủ tục hành chính; mở dữ liệu cho các tổ chức, DN, tăng 30% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân, DN; 70% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI); kinh tế số chiếm 30% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 8%; Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI); Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI); Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII); phổ cập dịch vụ mạng Internet băng rộng cáp quang; phổ cập dịch vụ mạng di động 5G; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 80%; Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI).

    Nhiệm vụ và giải pháp chuyển đổi số quốc gia thời gian tới

    Để thực hiện mục tiêu chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 thời gian tới cần tập trung vào các nhiệm vụ và giải pháp tạo nền móng chuyển đổi số như:

    Một là, tổ chức phổ biến, quán triệt chủ trương của Đảng, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, người dân và DN về sự cần thiết và tính cấp thiết của CĐS. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ về CĐS với nghị quyết, chiến lược, chương trình hành động, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của các cấp, các ngành. Phát huy vai trò liên kết CĐS giữa các cơ quan Nhà nước và các tổ chức, DN; giữa hội, hiệp hội ngành nghề công nghệ thông tin với hội, hiệp hội chuyên ngành trong các lĩnh vực khác để tạo hiệu ứng lan tỏa ra xã hội.

    Hai là, kiến tạo thể chế theo hướng khuyến khích, sẵn sàng chấp nhận sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số, thúc đẩy phương thức quản lý mới đối với những mối quan hệ mới phát sinh, bao gồm: Xây dựng khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát cho hoạt động phát triển, thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số ở Việt Nam; rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong tiến trình CĐS, khuyến khích đổi mới, sáng tạo; nghiên cứu chính sách, quy định cụ thể về thuế, phí để khuyến khích người dân, DN sử dụng, cung cấp các dịch vụ số.

    Ba là, phát triển hạ tầng số, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu bùng nổ về kết nối và xử lý dữ liệu, các chức năng về giám sát mạng lưới đến từng nút mạng và bảo đảm an toàn, an ninh mạng được tích hợp sẵn ngay từ khi thiết kế, xây dựng bao gồm: Xây dựng, phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao trên toàn quốc; quy hoạch lại băng tần, phát triển hạ tầng mạng di động 5G; sớm thương mại hóa mạng di động 5G; triển khai các giải pháp để phổ cập điện thoại di động thông minh tại Việt Nam; mở rộng kết nối Internet trong nước, khu vực và quốc tế, đặc biệt là phát triển các tuyến cáp quang biển, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm kết nối khu vực. Phát triển hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT).

    Bốn là, phát triển nền tảng số mang tính thúc đẩy nhanh tiến trình CĐS diễn ra một cách tự nhiên, khai mở giá trị mới, mang lại lợi ích rõ ràng cho xã hội. Nền tảng số được tích hợp sẵn các chức năng về bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngay từ khi thiết kế, xây dựng như: Xây dựng hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia; xây dựng hệ thống thanh toán điện tử cho phép DN viễn thông cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử không thông qua tài khoản ngân hàng (Mobile Money) đối với người dân để phổ cập, cung cấp khả năng tiếp cận dịch vụ thanh toán điện tử một cách rộng rãi tới tất cả người dân; xây dựng và làm chủ công nghệ điện toán đám mây (Cloud).

    Năm là, tạo lập niềm tin vào tiến trình CĐS, hoạt động trên môi trường số thông qua việc hình thành văn hóa số, bảo vệ các giá trị đạo đức căn bản và bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm: Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng các bộ quy tắc ứng xử, tạo lập niềm tin trong môi trường số, hình thành văn hóa số gắn liền với bảo vệ các giá trị đạo đức căn bản của nhân loại và văn hóa truyền thống của Việt Nam; xây dựng cơ chế hợp tác, đối thoại để giải quyết các vấn đề phát sinh; xây dựng và triển khai hệ thống xác định, phát hiện thông tin vi phạm pháp luật trên không gian mạng và kịp thời xử lý, gỡ bỏ; xây dựng và triển khai hệ thống đánh giá tín nhiệm số đối với hệ thống thông tin của các tổ chức, DN cung cấp dịch vụ trực tuyến để đánh giá và công bố công khai mức độ an toàn, tin cậy; xây dựng và triển khai hệ thống giám sát, cảnh báo sớm nguy cơ, điều phối ứng cứu sự cố mất an toàn, an ninh mạng cho các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam.

    Sáu là, hợp tác quốc tế, nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số. Thu hút nhân tài, hợp tác với các tổ chức, DN lớn trên thế giới để nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo, bao gồm: Xây dựng chương trình hành động cụ thể để nghiên cứu, chuyển giao, triển khai các công nghệ mới ở Việt Nam; nghiên cứu, xây dựng các khu thử nghiệm dành cho DN công nghệ theo mô hình tiên tiến của thế giới để tiên phong thử nghiệm công nghệ mới nhất, mô hình mới nhất trên thế giới; Lựa chọn ưu tiên nghiên cứu một số công nghệ cốt lõi mà Việt Nam có khả năng tạo bứt phá mạnh mẽ như: Trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối (blockchain) và thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR); xây dựng hệ thống điện toán có năng lực đủ mạnh để xử lý, phân tích dữ liệu; Chủ động hợp tác quốc tế trong việc tham gia quản lý các tài nguyên chung trong môi trường số và trên không gian mạng./.

Nguyễn Trang

Nguồn: Consosukien.vn

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

 Thống kê Bến Lức

" Thống kê là tai, là mắt của Đảng"


Trích dẫn ý kiến của nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về công tác "Thống kê" tại hội nghị Tổng kết ngành Thống kê

Theo Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Thủ tướng chính phủ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại hội nghi Tổng kết ngành Thống kê năm 2018: “…Trước hết, ta thấy nhận thức trên toàn xã hội, ngành Thống kê là một ngành có vị trí quan trọng, bởi là nơi cho kết quả đầu ra của cả nền kinh tế với những số liệu khách quan, trung thực. Chúng ta có Luật Thống kê, theo đó ngành Thống kê tương đối độc lập để có được kết quả ấy. Từ sản phẩm kết quả đầu ra về kinh tế - xã hội của đất nước, giúp cho việc hoạch định về các chiến lược và công tác quy hoạch, kế hoạch của Quốc gia, của ngành. Từ đó, chúng ta hình thành nên những cơ chế chính sách để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt là qua số liệu, chúng ta có thể điều hành chỉ đạo, nhất là chỉ đạo những việc nổi cộm trong từng thời kỳ. Con số biết nói chính là ở chỗ đó. Không thể nói theo định tính được, cần phải có định lượng, khi chưa biết số tuyệt đối thì chưa thể nói số tương đối. Các đồng chí làm việc này rất khách quan..”, hay:

Tại hội nghị Thống kê toàn quốc (17/3/2022) Ủy viên Bộ chính trị, Thủ tướng chính phủ Phạm Minh chính  phát biểu và đưa ra dẫn chứng: “Ngành Thống kê là tai, là mắt của Đảng; nói có sách, mách có chứng; con số biết nói” để nhấn mạnh tầm quan trọng của Thống kê;

“…Thủ tướng chỉ đạo ngành Thống kê cần tiếp tục nâng cao nhận thức về công tác thống kê trên toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt là người đứng đầu ở các cấp chính quyền; thống kê đảm bảo đầy đủ, toàn diện, khách quan, chính xác, kịp thời, thường xuyên, liên tục và phân tích đánh giá, dự báo phải sát với tình hình và sử dụng có hiệu quả số liệu thống kê; đầu tư cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, người đứng đầu các cấp chính quyền địa phương cần trực tiếp chỉ đạo, nắm về công tác thống kê để có số liệu; nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, gắn với việc cơ cấu lại và xây dựng bộ máy tinh gọn, làm việc có hiệu quả gắn với vị trí việc làm; đầu tư hơn cho việc nâng cao chuyển đổi số, kết hợp với các nền tảng chung; hoàn thiện thể chế; phối hợp với các bộ,ngành chặt chẽ và có hiệu quả; công tác hợp tác quốc tế sâu rộng; chi phí hành chính thấp người dân được thụ hưởng không để ai bỏ lại phía sau”.

Thực hiện: 

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2022

Thống kê Bến Lức

Tăng cường chất lượng và hình thức tuyên truyền, phổ biến thông tin thống kê


     Trong thời gian qua, ngành Thống kê đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng thông tin thống kê và tuyên truyền, phổ biến thông tin thống kê với nhiều hình thức đa dạng, phong phú tới đông đảo đối tượng dùng tin trong nước và quốc tế. Song, có thể khẳng định, trước hết, để người dân tin, quốc tế tin tưởng sử dụng thông tin thống kê thì chất lượng thông tin thống kê phải được đặt lên hàng đầu vì có tuyên truyền tốt đến mấy mà nội dung tuyên truyền không đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin thì việc tuyên truyền cũng sẽ không đạt hiệu quả. Chính vì vậy ngành Thống kê luôn xác định việc đổi mới, nâng cao chất lượng thông tin Thống kê là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài thể hiện trong nhiều hoạt động của Ngành. Trong đó có việc xây dựng cơ sở pháp lý, cập nhật Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia; hệ thống chỉ tiêu thống kê tỉnh, huyện, xã phù hợp với quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Ngành Thống kê xác định, người dân, doanh nghiệp là người cung cấp thông tin đồng thời cũng là người sử dụng thông tin nên ngay khi xây dựng danh mục chỉ tiêu thống kê, ngành Thống kê đã tham khảo ý kiến của người dân, doanh nghiệp, các bộ, ngành, tham vấn ý kiến từ các chuyên gia, tổ chức quốc tế. Bên cạnh đó, ngành Thống kê đẩy mạnh đổi mới cách thức thu thập thông tin thống kê, sử dụng công nghệ thông tin thay thế phiếu giấy nhằm có được thông tin chính xác, kịp thời; Nghiên cứu xây dựng đề án về Tư liệu hóa và chuyển đổi số trong Ngành; Tăng cường đào tạo nhân lực, nâng cao trình độ của người làm công tác thống kê thông qua các khóa đào tạo trong nước và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia quốc tế. Đặc biệt, đã có nhiều chuyên gia từ các tổ chức quốc tế tham gia hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, giám sát các cuộc điều tra, Tổng điều tra hoặc các nghiệp vụ chuyên sâu của Tổng cục Thống kê, như các chuyên gia đến từ ILO, UNFPA trong Tổng điều tra dân số và nhà ở, Điều tra Lao động việc làm; chuyên gia IMF trong Đánh giá lại quy mô GDP của Việt Nam, trong điều tra giá, … Ngành đã tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo cả trực tiếp và trực tuyến với các chuyên gia, tổ chức quốc tế, cơ quan thống kê các nước về các chỉ tiêu thống kê như Kinh tế số, logistics…Nhờ vậy, chất lượng thông tin thống kê của Việt Nam ngày càng được nâng lên, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người dùng tin trong nước và quốc tế do phương pháp luận luôn tuân thủ theo chuẩn mực của quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.


     Có được thông tin tốt việc tuyên truyền cũng phải tốt mới đạt mục tiêu là người dùng tin tin tưởng sử dụng thông tin thống kê. Hàng năm, ngay từ cuối năm trước, căn cứ kế hoạch công tác, ngành Thống kê đã xây dựng tổng thể kế hoạch tuyên truyền, lịch phổ biến thông tin thống kê của ngành cho năm sau. Dựa trên kế hoạch tổng thể này, các đơn vị trong toàn ngành xây dựng kế hoạch cụ thể tại từng đơn vị. Đây là căn cứ quan trọng để các đơn vị trong toàn ngành chủ động thực hiện công tác tuyên truyền bài bản, rộng khắp từ cơ quan Tổng cục Thống kê đến các cục Thống kê địa phương.

     Một trong những hình thức tuyên truyền phổ biến của Ngành là họp báo. Ngành Thống kê tổ chức các cuộc họp báo định kỳ công bố tình hình kinh tế xã hội cả nước và tình hình lao động việc làm theo quý, năm (ở trung ương) và tình hình kinh tế xã hội 6 tháng và cả năm (tại 63 tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương ). Ngoài ra, còn tổ chức họp báo đột xuất về kết quả các cuộc Tổng điều tra và điều tra quan trọng. Các cuộc họp báo ở Trung ương và địa phương có sự tham dự của đông đảo các phóng viên, biên tập viên, đại diện các bộ, ban, và các sở, ngành liên quan. Ngành Thống kê dành nhiều thời gian để trao đổi, giải đáp thỏa đáng các câu hỏi về thông tin thống kê đã cung cấp. Tài liệu cung cấp cho đại biểu tại cuộc họp báo được chuẩn bị kỹ lưỡng với nhiều hình thức như thông cáo báo chí, báo cáo rút gọn, inforgraphic. Sau mỗi cuộc họp báo, ngành Thống kê còn tổng hợp lại những thông tin quan trọng được dư luận quan tâm, tiếp tục cung cấp cho người dùng tin. Vì vậy, sau mỗi cuộc họp báo, thông tin thống kê tổng quan và chuyên sâu, các bài phân tích, phỏng vấn được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần giúp các cấp chính quyền, tổ chức, người dân và cộng đồng quốc tế nắm bắt được diễn biến tình hình kinh tế xã hội trên phạm vi cả nước, địa phương.

     Thông tin thống kê còn được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi thông qua website chính thống của Tổng cục Thống kê, Tạp chí điện tử Con số và Sự kiện, web của các đơn vị trong Ngành cùng 58/63 trang web của Cục Thống kê địa phương.  Các trang web này cập nhật đầy đủ, kịp thời các thông tin thống kê, được thiết kế khoa học giúp người dùng tin dễ dàng khai thác thông tin. Ngoài ra, các thông tin thống kê còn được tuyên truyền trên các bảng điện tử Led của 63 Cục Thống kê, với các nội dung phù hợp với từng thời điểm, nhiệm vụ của Ngành, qua đó cũng góp phần đưa thông tin thống kê, hoạt động của Ngành thống kê đến với người dân.

     Hiện nay, trong xu hướng mạng xã hội ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống người dân, những người làm công tác thống kê đã xây dựng fanpage Thống kê Việt Nam, tạo thêm một kênh đưa thông tin thống kê tiếp cận đến người dùng tin.

     Bên cạnh các hình thức tuyên truyền, phổ biến thông tin điện tử, trang web, thì hình thức tuyên truyền thông qua việc xuất bản các ấn phẩm thống kê cũng được chú trọng. Hằng năm, ấn phẩm thương hiệu của ngành Thống kê là Niên giám Thống kê ở Trung ương và 63 Cục Thống kê địa phương được đều đặn phát hành. Trung bình, ngành Thống kê xuất bản khoảng 250-300 đầu sách/năm với các thông tin thống kê chuyên đề chuyên sâu, kết quả các cuộc điều tra, Tổng điều tra, sách trắng doanh nghiệp, sách trắng hợp tác xã...

     Ngoài ra, ngành Thống kê cũng sản xuất nhiều video clip về một số đề án, hoạt động lớn của ngành phục vụ các đoàn công tác của cơ quan Thống kê ra nước ngoài và các đoàn nước ngoài đến công tác tại cơ quan Thống kê Việt Nam, giúp cho các cơ quan, tổ chức quốc tế hiểu rõ hơn về công tác thống kê Việt Nam.

     Có thể nói rằng, để có được thông tin thống kê chính xác, đầy đủ thì chỉ riêng sự cố gắng của ngành Thống kê, của những người làm công tác thống kê là chưa đủ mà cần có sự ủng hộ, hợp tác của người dân, doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin. Chính vì vậy, để có nguyên liệu đầu vào sạch, sản xuất ra số liệu thông tin chất lượng, thì người dân, doanh nghiệp là chủ thể được ngành Thống kê tập trung tuyên truyền. Theo đó, tùy mục đích, yêu cầu, nội dung của từng cuộc điều tra, ngành Thống kê phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông xây dựng kế hoạch tuyên truyền cụ thể, đảm bảo các nội dung tuyên truyền xuất hiện đồng loạt, cùng thời điểm, tạo hiệu ứng lan truyền trên tất cả các phương tiện truyền thông, để mọi người dân đều có thể biết, hiểu, ủng hộ. Đơn cử như trong cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2021, ngành Thống kê đã phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các báo in, báo mạng sản xuất hàng loạt chương trình phóng sự, tọa đàm, phỏng vấn, các bài viết, từ đó nhận được sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp, góp phần tạo nên thành công của cuộc tổng điều tra.

     Nhiều chiến dịch tuyên truyền của ngành Thống kê có sự tham gia của các chuyên gia ở các tổ chức quốc tế trong việc viết bài, trả lời phỏng vấn, tham gia tọa đàm trên các kênh truyền hình, càng khẳng định tính đúng đắn của phương pháp luận thống kê mà ngành Thống kê áp dụng phù hợp với thông lệ quốc tế… Bên cạnh đó, những người làm công tác thống kê, đặc biệt là đội ngũ Lãnh đạo ngành Thống kê từ Trung ương đến địa phương luôn chủ động, phối hợp, sẵn sàng cung cấp, phản hồi thông tin thống kê đến với công chúng, góp phần giúp cho số liệu thống kê ngày càng minh bạch, chính xác, đầy đủ.

     Như vậy, để đưa thông tin thống kê tới được đông đảo người dùng tin trong nước và quốc tế, ngành Thống kê đã sử dụng nhiều kênh thông tin với nhiều hình thức đa dạng, phong phú trên cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch và thực hiện bài bản tại các đơn vị từ Trung ương đến địa phương. Để người dùng tin trong nước và quốc tế tin tưởng, sử dụng thông tin thống kê, Ngành đã tập trung nâng cao chất lượng thông tin thống kê, thu hút sự quan tâm, ủng hộ của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế ngay từ khi xây dựng văn bản pháp luật đến việc tham gia cung cấp và sử dụng thông tin thống kê nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người sử dụng thông tin thống kê.
 
TS. Nguyễn Thị Hương
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê
Nguồn: consosukien.vn
Thống kê Bến Lức    

      Tổng cục Thống kê nhận giải thưởng Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc

     Chiều ngày 06/9/2019, tại Hà Nội, Hội Truyền thông số Việt Nam tổ chức Lễ trao giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam – Vietnam Digital Awards (VDA) 2019. Đây là năm thứ hai giải thưởng được tổ chức để tôn vinh các tổ chức, doanh nghiệp có những thành tựu, đóng góp quan trọng cho công cuộc chuyển đổi số của Việt Nam.

     Tham dự Lễ trao giải có: Ông Phan Xuân Dũng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Quốc hội; Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Đại diện lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương; Đại diện lãnh đạo một số tỉnh, thành phố, các hiệp hội Trung ương và địa phương; Đại diện các đơn vị, doanh nghiệp nhận giải cùng đông đảo cơ quan thông tấn báo chí.

     Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam – Vietnam Digital Awards 2019 được phát động từ tháng 3/2019. Sau 4 tháng phát động, Ban tổ chức đã nhận được 245 hồ sơ dự thi ở tất cả các thành phần theo cơ cấu giải thưởng. Qua một thời gian đánh giá bình chọn, Ban tổ chức đã lựa chọn ra 50 đơn vị với các giải pháp xuất sắc nhất để trao giải thưởng cho 4 hạng mục gồm: Sản phẩm dịch vụ, giải pháp công nghệ số; Doanh nghiệp chuyển đổi số; Chuyển đổi số cơ quan nhà nước; Thu hẹp khoảng cách số. Trong đó, Tổng cục Thống kê vinh dự được nhận giải thưởng ở hạng mục Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc. Thay mặt Lãnh đạo Tổng cục Thống kê, Bà Nguyễn Thị Hương, Phó Tổng cục trưởng TCTK lên nhận giải tại Lễ trao giải.
 
Tổng cục Thống kê nhận giải thưởng hạng mục
 

Bà Nguyễn Thị Hương, Phó Tổng cục trưởng TCTK lên nhận giải tại Lễ trao giải. Ảnh: Bích Ngọc

     Đây là giải thưởng trân quý dành cho Tổng cục Thống kê với giải pháp ứng dụng phiếu điều tra điện tử trong Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019 thay cho phiếu giấy truyền thống. Thực hiện giải pháp này, trong quá trình thực hiện TĐT dân số và nhà ở năm 2019, Tổng cục Thống kê đã áp dụng 2 hình thức thu thập thông tin mới: (1) Điều tra bằng phiếu điện tử trên thiết bị di động (CAPI): Điều tra viên sử dụng thiết bị di động (máy tính bảng, điện thoại thông minh) để phỏng vấn, ghi dữ liệu và truyền trực tuyến về trung tâm máy chủ. Với phương pháp này, dữ liệu được quản lý đồng bộ tất cả các khâu trong quá trình điều tra. (2) Điều tra bằng phiếu trực tuyến sử dụng Internet (Webform). Đây là hình thức thu thập thông tin ứng dụng công nghệ thông tin của phương pháp điều tra gián tiếp, cho phép các hộ đăng ký thực hiện Webform được cấp Tài khoản và Mật khẩu dễ dàng nhập vào hệ thống thông tin của TĐT và tự cung cấp thông tin của hộ và các nhân khẩu thực tế thường trú của hộ theo phiếu hỏi.

     Giải pháp phiếu điều tra điện tử đã thể hiện một số ưu điểm nổi bật: Không cần in phiếu điều tra giấy, giúp giảm đáng kể ngân sách nhà nước cho cuộc điều tra; Giảm thời gian xử lý kết quả điều tra sau khi thu thập thông tin từ 9 tháng xuống còn 3 tháng (bỏ qua khâu nhập tin thường kéo dài mất 6 tháng đối với TĐT dân số); Ngăn ngừa và kiểm soát được các lỗi logic trong khi kê khai thông tin điều tra nhằm nâng cao chất lượng thông tin điều tra.

     Với những ưu điểm trên, giải pháp ứng dụng phiếu điều tra điện tử trong Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019 đã giúp nâng cao chất lượng số liệu, tăng tính minh bạch và chặt chẽ của quy trình sản xuất thông tin thống kê, rút ngắn thời gian công bố kết quả TĐT, giảm kinh phí điều tra và phù hợp với xu hướng tổ chức điều tra của thế giới.
 
Tổng cục Thống kê nhận giải thưởng hạng mục
 

Các đơn vị lên nhận giải thưởng tại Lễ trao giải. Ảnh: Bích Ngọc

     Giải thưởng "Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc”  là sự động viên, khích lệ lớn để Tổng cục Thống kê tiếp tục có những đóng góp trong hành trình chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới./.
 
Bích Ngọc

Nguồn: Consosukien.vn