"Dữ liệu đúng - Quyết sách đúng"

Thông tin Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, kịp thời và minh bạch***** Các tổ chức, cá nhân sử dụng số liệu thống kê phải được sự đồng ý của cơ quan thống kê và phải ghi rõ nguồn số liệu đồng thời chịu sự điều chỉnh theo luật thống kê đối với số liệu thống kê được sử dụng

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2019

Con số Thống kê

MỘT SỐ YẾU TỐ VỀ CƠ SỞ KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ BẾN LỨC
QUA CON SỐ THỐNG KÊ
 
1.        Số DN đang hoạt động đến 31/12 hàng năm (Doanh nghiệp)

Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
Ước TH năm 2018
615
772
838
1.023
1.150

So với năm 2017 số DN đang hoạt động tăng 112,41% và tăng 148,96% so với năm 2015. Số lượng DN đang hoạt động ngày càng tăng trên địa bàn huyện. Với nhiều chính sách thu húc đầu tư, sự thay đổi về thủ tục hành chính, môi trường đầu tư ổn định, thuận lợi đầu tư tại địa phương, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập
2.        Lao động trong doanh nghiệp (người)

Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
Ước TH năm   2018

         62.081         69.335       73.578       72.408        75.670

Lao động trong doanh nghiệp với số lượng ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu lao động của các doanh nghiệp đầu tư tại địa phương. Nguồn lao động dồi dào, ổn định là điều kiện nhất định để doanh nghiệp an tâm đầu tư. Đảm bảo thu nhập, đời sống của người lao động, tổng thu nhập bình quân/tháng  của người lao động càng tăng qua các năm 2014 là 5.132.000đ/người/tháng; đến năm 2017 là 7.473.000đ/người/tháng; năm 2018 là 8.369.000đ/người/tháng; tăng 12% so với năm 2017 và tăng 63% so với năm 2014. Như vậy, với nhiều chính sách về cải cách tiền lương hướng đến người lao động, Đảng và nhà nước luôn quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, góp phần cải thiện cuộc sống, thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp.

Nền kinh tế của huyện phát triển, doanh nghiệp an tâm sản xuất, vốn đầu tư sản xuất kinh doanh ngày càng tăng qua từng năm:
3.        Vốn đầu tư sản xuất kinh doanh (tỉ đồng)
Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
Ước TH năm 2018
55.742
65.869
74.855
78.876
90.707

Năm 2018 Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là 90.707 tỉ đồng, tăng 15% vốn so với năm 2017 và tăng 62,7% vốn so với năm 2014. Có thể thấy qua nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp đã từng bước thay đổi cơ cấu ngành trong hoạt động doanh nghiệp trên địa bàn.
4.        Tổng tài sản cố định và doanh thu tài chính
Qua kết quả điều tra doanh nghiệp hàng năm luôn biến động theo chiều hướng tăng năm 2014 là 22.613,9 tỉ đồng; 2015 là 27.554,7 tỉ đồng; năm 2016 là 31.202,9 tỉ đồng; năm 2017 là 34.764,2 tỉ đồng và năm 2018 khoảng 41.195 tỉ đồng tăng 18,5% so với năm 2017 và tăng 82,16% tài sản cố đinh và đầu tư tài chính so với năm 2014.

Hiệu quả đầu tư, vốn lưu động tăng, tăng tài sản cố định của doanh nghiệp cho thấy nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ở địa phương luôn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đáp ứng kịp thời về vốn đầu tư của doanh nghiệp trên địa bàn.
5.        Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp luôn luôn có chiều hướng tăng qua các năm 2014 là  598,2 tỉ đồng; năm 2015 là 2.228,1 tỉ đồng; năm 2016 là 2.156 tỉ đồng; năm 2017 là 2.263 tỉ đồng và năm 2018 là khoảng 2.500 tỉ đồng. Tỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng, năm 2017 tăng 2,7%; năm 2018 là 2.83%.

Bức tranh kinh tế của huyện Bến Lức qua quá trình Lãnh đạo, điều hành và hoạt động của các cơ sở kinh té đã từng bước làm thay đổi diện mạo của huyện nhà, mặc dù cùng với kinh tế cả nước có sự biến động và tác động rất lớn từ các cuộc chiến tranh thương mại giữa các nước lớn, đã làm không ít thay đổi cách tiếp cận và thay đổi cách thức hoạt động của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp FDI để thích ứng với sự thay đổi từ bên ngoài, từng bước thay đổi diện mạo của huyện nhà, qua đó Bến Lức có sự chuyển biến rõ nét qua quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà, là điều kiện tốt để chuẩn bị hướng đến đô thị loại II vào năm 2020.

Ngoài ra, các chính sách đầu tư, cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh của huyện luôn được cải thiện góp phần vào sự thay đổi bức tranh kinh tế của địa phương, nhà đầu tư an tâm sản xuất, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, làm giàu cho quê hương./.

 

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

DÂN SỐ BẾN LỨC 
QUA 10 NĂM TỔNG ĐIỀU TRA 
                           (01/4/ 2009 – 1/4/2019)

Thực hiện Quyết định  số 772/QĐ-TTg Ngày 26/6/2018, Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Đây là cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ 5 tại Việt Nam. Mục đích của Tổng điều tra là nhằm thu thập thông tin cơ bản về dân số và nhà ở trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phục vụ hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và giám sát các Mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 (viết gọn là Tổng điều tra năm 2019) được thực hiện trong bối cảnh đất nước đang trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và bước vào cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ và từng bước hướng đến Chính phủ điện tử.

Tổng điều tra năm 2019 là cuộc Tổng điều tra đầu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các công đoạn, đặc biệt là công đoạn thu thập thông tin tại địa bàn với hình thức thu thập thông tin chủ yếu điều tra bằng phiếu điện tử trên thiết bị di động, chiếm 100% các hộ dân cư.

Thời gian tiến hành điều tra là 25 ngày, từ ngày 01 đến ngày 25/4/2019. Đến ngày 16/8/2019 công tác xử lý và làm sạch số liệu trên địa huyện cơ bản đã hoàn thành và được nghiệm thu. So với kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 sớm hơn khoảng một năm. Đó là sự nổ lực cả Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, sự quyết tâm của BCĐ, sự nổ lực của ĐTV, Tổ trưởng cùng với sự phối hợp của người dân và nhiều tổ chức cá nhân trong công tác Tổng điều tra năm 2019.

Cuộc Tổng điều tra năm 2019 trên địa bàn huyện đến khoảng 19 giờ ngày 21/4/2019 đã kết thúc thu thập thông tin tại hộ (sớm hơn 04 ngày so với kế hoạch của BCĐ Trung ương); xã hoàn thành sơm nhất vào ngày 09/04/2019; và xã về cuối cùng vào ngày 21/4/2019) với kết quả sơ bộ được BCĐ trung ương công bố ngày 31/7/2019 tại công văn số 83/BCĐTW-VPBCĐTW như sau:

Tổng số dân của huyện Bến Lức ngày 01/4/2019 là 181.660 người, trong đó dân số nam là 90.725 người (chiếm 49,94%) và dân số nữ là 90.935 người (chiếm 50,06%). Với kết quả này, huyện Bến Lức có số dân đứng thứ 4 so với toàn tỉnh (Sau Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước).

So với Tổng điều tra dân số năm 2009, dân số huyện Bến Lức tăng 33.039 người (năm 2009 là: 148.621 người), bình quân tăng khoảng 3.303,9 người/năm. Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 2009-2019 là 2,02%/năm. Trong đó tỷ lệ tăng dân số cơ học là 1,49% (2.543 người/năm); giai đoạn 1999 – 2009 tỉ lệ tăng dân số bình quân là 1,8%/năm)

Tỷ số giới tính là 99,76 nam/100 nữ (năm 2009 là 97,09 nam/100 nữ), trong đó khu vực thành thị là 94,58 nam/100 nữ (năm 2009 là 85,53nam/100 nữ), khu vực nông thôn là 100,70 nam/100 nữ (năm 2009 là 99,31nam/100 nữ). Tỷ số giới tính tăng liên tục trong những năm qua nhưng luôn thấp hơn 100nam/100 nữ trên phạm vi toàn huyện.

Năm 2019, mật độ dân số của huyện Bến Lức631 người/km2, tăng 115 người/km2 so với năm 2009. Thị trấn có mật độ dân số cao nhất so toàn huyện là 3.101 người/km2 (năm 2009 là 2.584 người/km2, tăng 517 người/km2. Xã có mật độ dân số thấp nhất là xã Tân Hòa là 107 người/km2, (năm 2009 là 91 người/km2, tăng 16 người/km2.

Với vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp với Thành Phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của cả nước; là cửa ngỏ của miền tây Nam bộ với TP HCM. Với điều kiện thuận lợi trên trong 10 năm qua, huyện Bến Lức đã thực hiện nhiều chính sách thu húc đầu tư trên địa bàn; quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh tại nhiều địa phương như (Thị trấn Bến Lức, Lương Hòa, Lương Bình, An Thạnh.v.v…) đã tác động lớn làm gia tăng dân số ở khu vực thành thị. Dân số khu vực thành thị 2019 là 26.972 người, chiếm 14,84% ; ở khu vực nông thôn là 154.688 người, chiếm 85,16%.

Huyện Bến Lức có 179.911 người thuộc dân tộc Kinh (chiếm 99,04% dân số huyện)1.749 người thuộc dân tộc khác như Kmer, Hoa, Tày, Thái.v.v… (chiếm 0,96% tổng dân số của toàn huyện); Có 166.709 dân số không theo tôn giáo chiếm (chiếm 91,77% dân số toàn huyện), còn lại 8,23% dân số có tôn giáo (trong đó 2,83% dân số theo phật giáo, 4,82% dân số là công giáo, 0,11% dân số là tinh lành, 0,33% là cao đài.v.v…)

Dân số nhóm tuổi từ 0-5 tuổi là 13.502 người (chiếm 7,43% dân số toàn huyện). Trong đó trẻ em nam là 7.035 trẻ, chiếm 52,11% tổng số trẻ trong độ tuổi; trẻ em nữ là 6.467 trẻ, chiếm 47,89% số trẻ trong độ tuổi).

Dân số nhóm tuổi từ 6 – 14 tuổi là 23.827 người (chiếm 13.12% dân số toàn huyện). Trong đó nam là 12.331 người, chiếm 51,75% trong nhóm tuổi; nữ là 11.496 người, chiếm 48,25% trong nhóm tuổi)

Dân số nhóm tuổi từ 15 – 60 tuổi là 125.244 người (chiếm 68,94% dân số toàn huyện). Trong đó nam là 63.093 người, chiếm 50,37%; nữ là 62.151 người, chiếm 49,63%).

Dân số nhóm tuổi từ 61 tuổi trở lên là 19.087 người (chiếm 10,51% dân số toàn huyện).

Tính đến thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 toàn huyện Bến Lức có 52.067  hộ dân cư, tăng 13.900 hộ so với năm 2009. Trong 10 năm qua huyện Bến Lức đã thực hiện tốt các chính sách về dân số kế hoạch hóa gia đình, nhiều chính sách giảm sinh và sinh đủ 2 con, số người bình quân trong một hộ giảm dần trong giai đoạn 2009-2019. Trong đó, năm 2019 bình quân mỗi hộ dân cư có 3,48 người/hộ (năm 2009 là 3,89 người/hộ) giảm 0,41 người/hộ. Tại khu vực thành thị trung bình mỗi hộ dân cư có 3,25 người/hộ thấp hơn khu vực nông thôn là 0,28 người/hộ. 

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra năm 2019 cho thấy, trải qua 10 năm, quy mô dân số trên toàn huyện với tốc độ tăng hơn so với giai đoạn 10 năm trước (tăng dân số cơ học là tương đối cao so với năm 2009). Trình độ dân trí đã được cải thiện, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết là 97,8% (năm 2009 là 96,7%). Trong đó tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết chia theo thành thị là 99% (2009 là 97,6%), nông thôn là 97,6% (2009 là 96,5%). Kết quả cho thấy nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và nhà Nước phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, góp phần nâng cao tỉ lệ biết đọc biết viết so với giai đoạn trước;

Trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông đang được đến trường tăng dần, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường giảm mạnh. Tỉ lệ dân số 15 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường là 0,8% (2009 là 2,65%).Trong đó thành thị là 0,4% (2009 là 1,62%); nông thôn là 0,9% (2009 là 2,84%).

Điều kiện nhà ở của các hộ dân cư đã được cải thiện rõ rệt đặc biệt ở khu vực thành thị. Hầu hết các hộ dân cư đều có nhà ở và chủ yếu sống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố. Tỉ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố là 96,2% (2009 là 85%), tỉ lệ nhà thiếu kiên cố và đơn sơ là 3,8% (2009 là 15%). Với nhiều chính sách của Đảng và nhà nước, từng bước thay đổi diện mạo trong kết cấu xây dựng nhà ở của người dân, nhà ở được tốt hơn, đời sống người dân ngày càng nâng lên.

Kết quả Tổng điều tra năm 2019 cho thấy sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết và nổ lực của tất cả thành viên tham gia xuyên suốt Tổng điều tra, qua đó cho thấy nhiều chủ trương, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước trong thời gian qua đã được thực hiện tốt và có hiệu quả./.

Hội nghị Tổng kết và công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 huyện Bến Lức

 

HỘI NGHỊ

TỔNG KẾT VÀ CÔNG BỐ KẾT

QUẢ SƠ BỘ TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở 

NĂM 2019 HUYỆN BẾN LỨC


Ngày 19/9/2019, Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Bến Lức tổ chức hội nghị tổng kết và Công bố kết quả sơ bộ Tổng  điều tra dân số và nhà ở năm 2019 huyện Bến Lức.
Đến dự hội nghị có Ông Nguyễn Văn Chuẩn, Phó cục Trưởng Phụ trách CTK Long an, P. trưởng ban Thường trực TĐT DS và nhà ở tỉnh; Ông Dương Văn Út – Phó Bí thư thường trực, Chủ tịch HĐND huyện; Ông Nguyễn Thành Nhân – PCT UBND huyện, Trưởng BCĐ TĐT DS và nhà ở năm 2019 huyện Bến Lức.
​Để thực hiện thắng lợi Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, BCĐ huyện đã chuẩn bị các công việc cho tổng điều tra như: thành lập Ban chỉ đạo các cấp, xây dựng kế hoạch, tiến hành vẽ sơ đồ nền, phân chia địa bàn điều tra. Đồng thời tuyển chọn ĐTV vẽ sơ đồ nền, lập danh sách địa bàn điều tra, lập bảng kê, trưng dụng giám sát viên và tuyển chọn điều tra viên thu thập thông tin. Bên cạnh đó, BCĐ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để các tầng lớp nhân dân thấy rõ được mục đích, ý nghĩa và trách nhiệm đối với cuộc tổng điều tra. BCĐ tổ chức tập huấn nghiệp vụ sử dụng công nghệ thông tin trong điều tra cho BCĐ các cấp, Tổ trưởng và ĐTV.
Đúng 7 giờ ngày 1/4/2019 BCĐ huyện tổ chức lễ ra quân Tổng điều tra đồng loạt tại các xã/thị trấn, đến khoảng 19 giờ ngày 21/4/2019 huyện hoàn thành việc thu thập thông tin về dân số và nhà ở tại địa bàn, sớm hơn 04 ngày so với kế hoạch của BCĐ Trung ương.
Tại hội nghị BCĐ huyện Công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 huyện Bến Lức. Với kết quả, toàn huyện có 181.660 người, trong đó dân số nam là 90.725 người (chiếm 49,94%) và dân số nữ là 90.935 người (chiếm 50,06%). Với kết quả này, huyện Bến Lức có số dân đứng thứ 4 so với toàn tỉnh (sau Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước). So với Tổng điều tra dân số năm 2009, dân số huyện Bến Lức tăng 33.039 người (năm 2009 là: 148.621 người), bình quân tăng khoảng 3.303,9 người/năm. Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 2009-2019 là 2,02%/năm. Trong đó tỷ lệ tăng dân số cơ học là 1,49% (2.543 người/năm); giai đoạn 1999 – 2009 tỉ lệ tăng dân số bình quân là 1,8%/năm)
Phát biểu kế thúc Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND huyện, Trưởng ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện đã ghi nhận và đánh giá cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các thành viên Ban chỉ đạo của huyện, các cơ quan chuyên môn và các xã, thị trấn; tinh thần trách nhiệm của các điều tra viên trong việc thực hiện đúng quy trình, phương án của BCĐ trung ương quy định. Qua đó giúp UBND huyện, các ngành, các xã, thị trấn có số liệu cơ bản trong xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với thực tế của địa phương vào những năm tiếp theo, đặc biệt làm cơ sở số liệu để phục vụ Đại hội Nhiệm kỳ 2021-2025.
Tại hội nghị, ghi nhận những kết quả của BCĐ các cấp, ĐTV, Tổ trưởng đã đạt được, tại lễ tổng kết, Cục trưởng Cục Thống kê Tỉnh Long An đã ký khen thưởng cho 3 tập thể, 15 cá nhân.Chủ tịch UBND huyện Bến Lức đã ký khen thưởng 5 tập thể và 40 cá nhân./.



Một số hình ảnh tại hội nghị

















                                                                                             TL thực hiện./.